Hiển thị các bài đăng có nhãn du lich coffee. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du lich coffee. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Đến với Thác Voi - Tây Nguyên

Tây Nguyên không chỉ có cà phê, có "cái nắng", " cái gió" mà còn ôm trong mình những con thác to lớn, nguyên sơ, hoang dại. Với phong cảnh được thiên nhiên ưu đãi và còn đầy vẻ hoang sơ, thác voi còn được coi là một trong những thác đẹp của Tây Nguyên

Thác Liêng Rơwoa hay còn gọi là Thác Voi với chiều cao hơn 30m, rộng chừng 15m, nằm ở thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, cách thành phố Đà Lạt 25km về hướng tây nam.


Từ trên đỉnh thác ở độ cao 35m nhìn xuống ai cũng muốn đến được chân thác - nơi có những khối đá lô nhô, những thảm thực vật xanh mượt và những hang động kỳ thú. Muốn xuống được nơi đó phải trải qua một đoạn đường “chinh phục”. Bước xuống hơn 150 bậc đá, mỗi bậc là một góc độ, như một cảnh quay chậm của dải lụa trắng rộng 40m cùng ta cuốn xuống thấp, vô tận, không dứt. Hơi nước cuộn lên màn khói, hư ảo mà lại như cầm nắm và cảm nhận được rất rõ. Đến chân thác, bám theo dây leo rừng, bước lên những tảng đá lô nhô ra ngoài mặt nước. Tạo hóa thật khéo sắp đặt, 7 – 8 “con voi” (tảng đá) khoác trên mình tấm “áo choàng” xanh mướt của những thảm cỏ trông như đàn voi đang chen nhau tắm suối. Ngồi trên “lưng voi”, dưới chân là dòng nước cuộn chảy qua các ngóc ngách đá, nhìn lên dòng thác - hiện lên trong mắt là một vẻ đẹp tuyệt vời.
Chiêm ngưỡng thác Voi từ nhiều góc độ mới thấy hết vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ của nó, nhưng nhìn từ chân thác nhìn lên là vẻ đẹp hoàn hảo nhất. Nước tuôn xối xả qua sườn núi đá hoa cương ánh lên bảy sắc phản chiếu dưới ánh sáng xiên của mặt trời buổi sớm. Khói tỏa, sương bay như lạc vào miền thần tiên.
Những khối đá lô nhô nơi chân thác cũng tạo ra những hang động là nơi trú ngụ của những đàn dơi lớn, có hang sâu đến 50m với vách đá sừng sững, hang Gió vi vút sáo trời… phía sau lưng là dòng thác khổng lồ trút nước. Hơi nước, bụi nước từ dòng thác bay mù mịt, bao phủ khiến đi dưới thảm thực vật, hay đi trong hang đá, những giọt nước đọng trên lá cây ngọn cỏ cứ lộp bộp trên đầu làm ta có cảm giác mưa rừng suốt quanh năm. Dù đã được đầu tư xây dựng nhưng hành trình chinh phục chân thác cũng lắm gian nan. Vừa đi, lại vừa leo trèo, có khi phải leo lên một khối đá lớn, rồi đổ xuống phía bên kia tảng đá, tay bám vào bất cứ thứ gì có thể để làm điểm tựa. Nhưng chính vẻ đẹp nguyên sinh đó, trong không gian tĩnh mịch, giữa bốn bề là rừng cây, núi đá, tiếng thác đổ đã tạo nên điều kỳ thú, hấp dẫn.
Bên cạnh vẻ đẹp quyến rũ, thơ mộng, thác Voi từng là cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ. Mới được tôn tạo thành điểm tham quan du lịch trong những năm gần đây, song thác Voi nhanh chóng được công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia.
Trên đường khám phá Thác Voi, du khách ghé thăm các cơ sở ươm tơ nuôi tằm của người dân Nam Ban. Vào mùa Cà phê trổ bông, ta thấy trắng xoá cả một vạt đồi và hương thơm ngào ngạt của hoa cà phê.

>> Tour cà phê - Mùa hoa cà phê

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Du lịch Tây Nguyên thưởng thức cà đắng

Tây Nguyên không chỉ nổi tiếng với rượu cần, những đồn điền cà phê, điều, tiêu… mà còn được biết đến với một món ăn đặc trưng rất hấp dẫn là cà đắng. Khi đi du lịch Tây Nguyên, bạn phải một lần nếm món cà đắng của đồng bào dân tộc nơi đây, bạn mới “thấm” cái giản dị, mộc mạc mà thành “miếng ngon nhớ lâu” trong tâm thức của nhiều người.


Cà đắng là một loại cà dại vốn mọc nhiều trong rừng, trên nương rẫy của người đồng bào các dân tộc Tây nguyên. Quả cà đắng to hơn cà pháo và thường hơi dài ra, quả có màu xanh đặc trưng , cuống quả lại có gai nhọn nên cũng dễ nhận biết.

Quả cà đắng dùng để làm các món ăn tuy dân dã nhưng lại được người tây nguyên rất hâm mộ, chính vì vậy cà đắng hiện được trồng đại trà trong vườn nhà, vườn rẫy để thu hái quả quanh năm và bán đầy cả chợ lớn Buôn Ma Thuột

Loại cà này có thể ăn sống nên trở thành món ăn khá hấp dẫn với những ai thích vị đắng. Bạn hãy thử cắn một miếng để nghe vị đắng tứa vào chân răng và cảm nhận cái nghe vị giòn ngọt ùa đến ngay sau đó. Cà đắng có mặt trong nhiều món ăn trong bữa cơm người dân tộc như cà đắng nấu với cá khô, cá hấp hoặc tôm tép khô, cà đắng nấu ốc v..v... Nếu mạnh miệng qua được đũa đầu tiên của những món cà đắng, bạn sẽ “nghe” được vị ngọt đằm thắm hòa với vị ngọt, vị mặn của cá khô, của tôm tép và vị cay xé lưỡi tạo nên một khẩu vị rất lạ, rất riêng của núi rừng.

Riêng với người Ban mê thì rất thích đãi khách bằng món này nên thỉnh thoảng còn cho cà đắng kết duyên cùng cá hộp, thịt hộp, thịt ba chỉ, da heo hay lòng gà, lòng vịt theo cách nấu của người kinh cho dễ ăn và hợp với khẩu vị của những người mới ăn.

Hiện nay, cà đắng cũng rất phổ biến trong thực đơn các nhà hàng ở vùng Tây nguyên và hấp dẫn bao thực khách. Nếu có dịp đến với vùng đất này bạn hãy thử một lần món cà đắng, chắc chắn sự hấp dẫn của nó sẽ làm bạn nhớ mãi. --> chương trình các tour du lịch Tây Nguyên

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Đến thăm Đắk Nông - Tây Nguyên

Đắk Nông là một tỉnh ở Tây Nguyên được thành lập từ năm 2004. Phía Bắc tỉnh Đắk Nông giáp Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và Campuchia.


Đắk Nông nằm ở phía Trung Bộ, đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500 m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều đồng cỏ trải dài về phía Đông. Phía Tây địa hình thấp dần, nghiêng về phía Campuchia, phía Nam là miền đồng trũng có nhiều đầm hồ.

Một số thắng cảnh tại Đắk Nông

1. Thác Diệu Thanh

Thác Diệu Thanh nằm trên dòng suối Đắk Tít, là danh giới tự nhiên phân cách giữa hai xã Nhân Cơ và Quảng Tân, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.


Đặc điểm: Thác Diệu Thanh đẹp, hoang sơ và thơ mộng. Ngoài thác lớn nhất từ độ cao khoảng 30m đổ xuống vực sâu, Diệu Thanh còn có nhiều dòng thác nhỏ, cùng thác mẹ, nước đổ xuống suối quanh năm tung bọt trắng xoá. Dưới chân ngọn thác là cả một khoảng rộng mênh mông nước có nhiều mô đá nhỏ nhấp nhô, tạo thành hàng trăm dòng chảy ra nhiều hướng. Hai bên bờ suối là những bãi đất bằng phẳng có nhiều cây xanh toả bóng mát.

2. Nam Nung


Đắk Nông là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa và di tích cách mạng nên việc phát triển du lịch văn hóa sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng đang được tỉnh chú ý đầu tư phát triển. Quần thể di tích căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung đang được đánh giá là một điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch khi đến Đắk Nông.

Quần thể di tích Nam Nâm Nung (thuộc khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử Quốc gia tại Quyết định số 10/2005-QĐ-BVHTT. Điều đó càng làm tăng thêm ý nghĩa văn hoá, lịch sử cho vùng và tăng phần hấp dẫn cho khách du lịch muốn tìm hiểu về văn hóa và truyền thống cách mạng của Đắk Nông.

Nam Nâm Nung có diện tích hơn 30 km², kéo dài từ phía Tây Bắc địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong đến Lâm trường Đắk N'tao và Khu bảo tồn Thiên nhiên Nâm Nung. Hầu hết rừng ở đây vẫn còn là nguyên sinh. So với Bắc Nâm Nung thì động thực vật ở khu vực Nam Nâm Nung có phần phong phú hơn, phổ biến là các loại gỗ như Kiền Kiền, Sao, Bạch Tùng, Dẻ, Du Sam, Trâm, Chò Xót... Động vật như: nai, gà, lợn, khỉ, chồn, gấu, trâu...

Quần thể khu di tích bao gồm hai địa điểm Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Đức cũ. Khu căn cứ Tỉnh đội nằm ở phía Tây Nam Dình Dứa, dưới chân đồi Yok K’Lé Lay. Vành đai ngoài khu vực Tỉnh uỷ hiện tại vẫn còn những vết tích hầm, hào hình chữ Z, bếp Hoàng Cầm và những dấu tích địa dư mà các chiến sỹ trước đây phát rẫy trồng màu (lúa, ngô, khoai, sắn...). Vào bên trong vành đai là trung tâm của Tỉnh đội (1968-1971), nơi đây như một quần thể kết cấu của nhà và hầm nối tiếp nhau. Từ trên đồi (phía Nam) đi xuống (theo hướng Bắc), khách tham quan sẽ được thấy vết tích hầm của Tỉnh ủy, có độ dài 2,5m, rộng 0,9m, hầm làm theo kiểu chữ Z để tiện cho việc đi lại - một cửa vào và một cửa ra. Tiếp là căn nhà ở và làm việc từ 1968-1969 của đồng chí Bùi Đức Thành (Năm Nhân) Tỉnh đội trưởng, và sau đó là đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Tỉnh đội trưởng ở và làm việc từ 1969-1971. Từ căn cứ Tỉnh đội theo hướng Bắc khoảng 3,5km đường chim bay là tới căn cứ Tỉnh ủy thuộc khu vực suối Đắk Điên Clou, được bao bọc bởi hai phụ lưu (nhánh nhỏ) suối Đắk Điên Clou ở phía Bắc và Đông Nam. Khi đến nơi đây khách tham quan sẽ được thấy nền nhà Tỉnh ủy nằm tựa lưng vào hai tảng đá lớn phủ đầu rêu xanh bên lề con suối (phụ lưu phía Nam). Trước đây nhà là nơi ở và làm việc của đồng chí Trần Phòng (bảy Biên) - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đức, nền nhà có diện tích 12m², làm bằng gỗ, lợp lá mây hai mái, mặt hướng về phía Bắc.

Nằm về phía Tây Bắc khoảng 30m là căn hầm tự nhiên trong vách đá, phía trên hầm được phủ một tảng đá lớn, có sức chứa từ 8 đến 10 người, mặt hầm hướng về phía Bắc nằm cạnh kề phụ lưu suối Đắk Điên Clou (nhánh phía Bắc) về hướng Đông chừng 50m, khách tham quan sẽ tận mắt nhìn thấy một ngọn thác nhỏ sinh xắn và thơ mộng, có độ cao từ 3,5-4m. Hội trường, nơi tổ chức Đại hội Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đức lần thứ nhất (2-9-1969) nằm tựa lưng vào dòng chảy của thác. Hội trường có diện tích 84m², làm bằng gỗ, lợp lá mây, hai mái.

Trong khung cảnh núi rừng Nam Nâm Nung hùng vĩ hôm nay, ít ai ngờ nơi đây trong kháng chiến chống Mỹ lại là một căn cứ cách mạng nổi tiếng. Đến đây khách tham quan sẽ được tận mắt chứng kiến màu xanh ngút ngàn của núi rừng Tây Nguyên, được đắm mình trong những con suối, ngọn thác với dòng nước trong lành, mát mẻ, lúc này hình ảnh lịch sử như sống lại trước mắt du khách một thời hào hùng oanh liệt, di tích nằm lọt vào thảm rừng nguyên sinh, với những cây cổ thụ như ôm ấp và che chở các dấu tích của một thời lịch sử oai hùng. Nơi đây như một quần thể của sự kết hợp hài hòa giữ thiên nhiên và con người, du khách sẽ được hít thở không khí trong lành, tắm và vui đùa trên dòng thác, một khung cảnh hữu tình đầy chất thơ mà thiên nhiên ban tặng cho con người.

Với những lợi thế và ý nghĩa trên đây, Nam Nâm Nung xứng đáng là “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống cách mạng và là nơi tham quan, du lịch hấp dẫn của du khách gần xa khi đến với Đắk Nông.

3. Hồ Tây (Đăk Nông) - Êm đềm và lãng mãn

Tọa lạc ngay trung tâm của huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông, hồ Tây rộng lớn như một chiếc gương soi khổng lồ cho trung tâm thị trấn huyện. Hồ Tây có một vẻ đẹp kiều diễm của những thiếu nữ xinh đẹp đang bước vào tuổi xuân thì, không kiêu xa nhưng đằm thắm, mặn mà.



Nếu đặt chân đến đây lần đầu tiên, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên khi tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên đã ban tặng cho Đắk Nông nói chung và huyện Đắk Mil nói riêng.

Hồ Tây có diện tích rộng khoảng 40ha, đây là lòng hồ chứa nước lớn để cung cấp cho việc tưới tiêu của huyện Đắk Mil và cũng là nơi nhận chứa dung lượng nước từ các dốc cao đổ xuống với khối lượng lớn khi mùa mưa về. Hồ Tây mang trong mình sự êm đềm và lãng mạn, mặt nước bằng phẳng, trong xanh in bóng bầu trời cao rộng phía trên, chỉ đôi khi có những làn gió mạnh vô tình lướt qua mới làm cho mặt nước lăn tăn gợn sóng, trông rất đẹp và hiền hòa.

Xung quanh hồ Tây là những vườn cây xanh tươi tỏa bóng do người dân quen khu vực trồng và chăm sóc. Dạo quanh hồ Tây để ngắm cảnh đẹp, bạn sẽ được hòa mình giữa thiên nhiên bao la và hít thở không khí trong lành, dễ chịu.

4. Về thăm vẻ đẹp hoang sơ của thác Đăk G’Lun


Đến Đắk Nông để tham quan, nghỉ dưỡng sau những ngày bộn bề công việc mà bạn chưa đi thăm điểm du lịch thác Đắk G’Lun thì quả là đáng tiếc.


Nằm trên địa phận xã Đắk R’Til, huyện Tuy Đức, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa 60km, thác Đắk G’Lun tuyệt đẹp tung mình ở độ cao hơn 50m rồi được tẽ thành hai dòng nước treo lơ lững trên vách đá trông rất quyến rũ.

Đến với Đắk G’Lun là đến với cảnh non nước hữu tình, không khí mát mẻ, trong lành, cộng với tiếng chim muông ca hát bạn sẽ có được cảm giác thư giãn, êm đềm. Bên trên dòng thác là những khối đá lớn và bằng phẳng tựa những tấm thảm trải rộng để hai dòng chảy ngày đêm chuyển động không mệt mỏi. Phía dưới chân thác là những mô đá lớn nhỏ nhấp nhô với muôn vàng dáng vẻ, tựa những vũ khúc điệu đàng. Khi mặt trời lên, những bụi nước lóng lánh làm thành những chiếc cầu vồng lúc ẩn lúc hiện.

Thác Đắk G’Lun nằm trong cánh rừng đặc dụng với nhiều loại gỗ quý hiếm. Bao bọc xung quanh thác là các loại cây có tán rộng và những bụi le rừng mát mẻ. Quanh khu vực này hơi nước luôn toả ra trông giống như mưa phùn ở Đà Lạt. Nơi đây còn có những bãi đất rộng và bằng phẳng để du khách cắm trại nghỉ qua đêm, hay để thưởng ngoạn mặt trời lên…Từ nhiều năm nay, dù nằm ở nơi khuất vắng, nhưng với vẻ đẹp hoang sơ và thơ mộng của mình, thác Đắk G’Lun đã cuốn hút biết bao du khách trong vùng đến tham quan.

Nơi đây nếu được đầu tư và xây dựng chắc chắn sẽ không chỉ thu hút du khách trong tỉnh mà sẽ còn thu hút nhiều du khách ở các tỉnh lân cận như Đắk Lắk, Bình Phước, Bình Dương, Tp.Hồ Chí Minh.

5. Thác Ba Tầng


Thuộc huyện Đắk Nông, tỉnh Đắk Nông, cách thị trấn Gia Nghĩa khoảng 8km theo quốc lộ 14 ngược hướng về Buôn Ma Thuột.


Đặc điểm:Quanh thác Ba Tầng có nhiều cây cổ thụ và có bãi đất rộng bằng phẳng, thoáng mát để cho du khách cắm trại, thư giãn khi đến thăm thắng cảnh này.

Người ta gọi là thác Ba Tầng bởi vì khi nước suối chảy đến đây phải qua ba tầng thác mới đến lòng suối nằm ở phía dưới. Ba tầng thác này nằm nối tiếp nhau trong một chiều dài khoảng 40m. Tầng thứ nhất không cao lắm, nước từ các tảng đá rơi xuống lòng thác từ độ cao hơn 1,5m. Cách tầng thác thứ nhất chừng 20m là tầng thác thứ hai. Ở tầng thác này, dòng nước suối xanh trong sau khi len lỏi giữa những tảng đá nằm kề nhau và từ độ cao khoảng 2m đã tràn xuống phía dưới tung bọt trắng xóa. Thác thứ ba là thác lớn nhất và là thác chính của cụm thác Ba Tầng. Ngọn thác chính này cao hơn 20m, ngày đêm ầm ào chảy giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng và đổ tràn về hai bên bờ suối. Ở đây dòng suối khá rộng, ven bờ có nhiều lùm cây cao tỏa bóng mát mà du khách có thể ngồi nghỉ ngơi ngắm cảnh dòng nước tuôn trào từ trên cao xuống trong âm vang của tiếng thác reo. Đứng dưới nhìn lên ta thấy hơi nước tỏa bay ra xung quanh như một lớp sương mù bao phủ ngọn thác mải miết reo vang muôn thuở giữa ngàn xanh.

6. Thác Trinh Nữ

Nằm cách trung tâm huyện Cư Jut  khoảng 1km về phía tây và cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 25km về phía tây nam.


Thác Trinh Nữ là một trong những địa điểm thu hút khách thập phương đến đây du ngoạn, ngắm cảnh nhiều nhất.

Trước khi hòa vào dòng Sêrêpôk cuồn cuộn chảy, nhánh sông Krông Nô còn phải vượt qua những dãy đá lởm chởm, xếp chồng lên nhau muôn hình, muôn vẻ. Thế nhưng, lực cản cuối cùng đó đã tạo nên một thắng cảnh thiên nhiên hấp dẫn và có một cái tên vô cùng thơ mộng - Thác Trinh Nữ.

Tương truyền, sở dĩ ngọn thác có cái tên đầy quyến rũ này là do bắt đầu từ một câu chuyện khá buồn: Một cô gái đang tuổi xuân thì, do trắc trở chuyện tình duyên đã tìm đến ngọn thác và quyết định gửi thân vào dòng nước bạc trắng xóa để quên đi nổi đau khổ. Và như để tỏ lòng trắc ẩn, cảm thương cô gái xấu số kia, cái tên Trinh Nữ đã được người đời đặt cho ngọn thác.

Theo những con đường uốn lượn, bậc cấp bằng đá, du khách có thể đi dọc theo dòng chảy của thác để ngắm cảnh nước non đang hòa quyện vào nhau. Khi đôi chân đã mỏi, hay muốn vui chơi ca hát, du khách có thể nghỉ ngơi, quây quần thoải mái dưới những chiếc chòi mái lá xinh xắn trong một khung cảnh chỉ có riêng mình với thiên nhiên. Du khách muốn lưu lại để ngắm cảnh của núi rừng, thác nước về đêm ư? Cũng không khó khăn gì, đã có những căn hộ nho nhỏ mang dáng dấp ngôi nhà của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên dựng bên cạnh thác sẽ giúp du khách thỏa mãn ý tưởng đầy thi vị đó. Vâng, từ thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên cho đến lòng mến khách của con người, tất cả luôn sẵn sàng chào đón để du khách có những giây phút thư giãn thoải mái nhất.

7. Thác Dray Sáp


Thác Dray Sáp là thác hạ nguồn trong hệ thống 3 thác Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông, cách thành phố Buôn Ma Thuột 30km. (Xem tìm hiểu về Thác Dray Nur)

Đặc điểm: Thác cao 20m nhưng trải rộng khoảng 100m. Theo tiếng Ê Đê, Dray Sáp nghĩa là thác khói.
Bởi lẽ dòng nước từ trên cao đổ xuống thung lũng ào ào tạo thành khối lớn, bụi nước bay là là như màu khói. Quanh năm suốt tháng cả một vùng vang vọng tiếng thác và ngập trong khói nước.

Thác Dray Sáp là một thắng cảnh đẹp nhờ sự kết hợp giữa hai dòng sông Krông Nô và Krông A Na mà người Ê Đê và người M'Nông gọi là sông Chồng, sông Vợ gặp nhau mà thành. Tình yêu của họ mạnh mẽ như dòng thác, đẹp đẽ như sắc cầu vồng ẩn hiện trong làn sương khói nước. Dray Sáp như một bức thành nước khổng lồ, hùng tráng giữa một vùng hoa nước long lanh.


8. Hồ Ea Snô 

Hồ Ea Snô là một hồ nước tự nhiên có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình còn hoang sơ toạ lạc trên vùng đất thuộc xã Đắk Rồ, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông. Hồ nằm cách thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông 125 km về hướng đi thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Thắng cảnh được thiên nhiên hào phóng ban tặng này luôn gắn liền với những truyền thuyết dân gian, với tâm tư tình cảm, phong tục tập quán, và cả những tập tục của cư dân cư nơi đây.





Hồ Ea Snô là một thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú có diện tích mặt hồ hơn 80 hecta. Đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, mặt hồ tựa chiếc gương bạc khổng lồ lấp lánh, được viền quanh bởi dải hoa văn là những ngọn đồi nhấp nhô, lại được điểm tô bởi màu xanh của núi rừng hùng vĩ. Xung quanh bờ hồ là những cánh rừng đặc dụng với nhiều loại cây, loài thú hiếm: rắn, ba ba, khỉ, nai, heo rừng...

Khi đến đây, bạn sẽ được du thuyền trên mặt hồ để thưởng lãm cảnh đẹp hoang sơ của núi rừng, thả hồn theo làn gió mát rượi để xua tan những lo toan, vướng bận. Ngoài ra, bạn cũng có thể du thuyền từ cửa hồ này ra sông Krông Nô rồi xuôi về bên trái để xuống thác Dray Sap, hay ngược dòng để lên buôn Choah thăm quê hương của tù trưởng Nơ Trang Gưh. Thú vị hơn, bạn có thể theo dòng Krông Nô qua dòng Krông Ana để về hồ Lăk hay đến vùng Ea Rbine. Ngoài việc du ngoạn cảnh hồ, du khách còn có thể tham quan các buôn làng: buôn Ol, buôn Choah, buôn Leng - nơi lưu giữ nhiều truyền thuyết về Ea Snô. 


9. Ngục Đắk Mil


Ngục Đắk Mil: Nằm dọc theo quốc lộ 14, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông khoảng 60 km, ngục Đăk Mil nằm trong địa phận huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông là di tích lịch sử oai hùng còn mang đậm dấu ấn của thời gian.

Năm 1941, đứng trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân ta, người Pháp cho xây dựng ngục Đăk Mil để làm nơi giam cầm, đầy ải những chiến sĩ cách mạng. Ngục gần như nằm tách biệt với thế giới bên ngoài, chỉ có ai day sàn gỗ làm nơi trú ngụ cho tù nhân, xung quanh được bao bọc bởi hàng rào gỗ và dây kẽm gai kiên cố. Trong điều kiện sinh hoạt hết sức khắc nghiệt, hàng ngày lại phải đối mặt với xiềng xích, gông cùm, chế độ lao dịch nặng nề... nhưng các chiến sĩ cách mạng vẫn kiên định lý tưởng đấu tranh.
Ngục Đăk Mil đã từng lưu dấu chân những chiến sĩ cách mạng ưu tú như: Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Nguyễn Tạo, Lê Nam Thắng... sau này làm nên lịch sử bằng những chiến công vang dội khắp Tây Nguyên.

Dấu tích của ngục Đăk Mil xưa nay chỉ còn lại cái nền, và tỉnh đang tôn tạo phục hồi lại như thuở ban đầu để ghi nhớ cho các thế hệ sau. Mời du khách hãy một lần đến ngục Đăk Mil để cảm nhận khí thế đấu tranh hào hùng, bất khuất của thế hệ cha anh ngày trước.

10. Làng văn hóa đồng bào dân tộc Mnong

Làng Văn Hoá Đồng Bào Dân Tộc Mnông: Từ thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông dọc theo quốc lộ 14 hướng đi thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk khoảng 28 km, rẽ trái khoảng 12 km bạn sẽ đến làng văn hóa đồng bào dân tộc Mnông, một trong những làng còn lưu giữ nhiều nét văn hóa độc đáo, đặc biệt là các tác phẩm sử thi, trường ca...


Làng văn hóa đồng bào Mnông có khoảng 1.500 hộ dân, trong đó bon Bu Prâng là bon tiêu biểu còn lưu giữ được hơn 200 pho sử thi Mnông - Ot Nrong có tính hệ thống cao và có giá trị nhân văn lớn (bộ sử thi phổ hệ). Đặc biệt, trong bon Bu Prâng có gia đình nghệ nhân Điểu Kâu đã nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch và lưu giữ hàng trăm bộ sử thi Ot Nrong của vùng này. Cách thể hiện các bài Ot Nrong là hát, hát trong lúc lên rẫy, hát bên bếp lửa hồng, trong các ngày lễ hội mọi người cùng quây quần bên ché rượu cần cùng với tiếng chiêng rộn rã... Có thể nói rằng, thông qua ngôn ngữ truyền miệng, hát Ot Nrong thể hiện sự đoàn kết trong gia đình và xã hội, gắn liền truyền thống giáo dục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đồng thời nó còn là món ăn tinh thần không thể thiếu được của đồng bào Mnông sau những ngày lao động vất vả...

Đến thăm bon Bu Prâng, du khách không thể không ghé thăm khu nhà mồ của đồng bào Mnông. Đây là một trong những nét kiến trúc truyền thống, văn hoá tín ngưỡng của đồng bào trong quá trình hình thành và phát triển. Nhà mồ là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa thể hiện qua các mô típ, dáng dấp riêng của từng dân tộc. Kiến trúc nhà mồ mang tính đặc trưng ở nghệ thuật trang trí, hình tượng, văn hoa chạm trổ khá công phu trên chất liệu gỗ, đến kiến trúc nhà mang hình khối có trang trí các búp sen bằng chất liệu kết dính theo văn hóa Tây Nguyên. Ngoài ra, các lễ hội trong buôn thường được tổ chức vào tháng 3 hàng năm với các hoạt động: lễ mừng được mùa, lễ cúng sức khoẻ cho người, lễ cúng sức khoẻ cho voi, lễ hội ăn trâu, lễ cơm mới...

11. Khu di tích lịch sử anh hùng ntrang lơng

Khu di tích lịch sử anh hùng dân tộc Mnông Ntrang Lơng nằm trên địa bàn huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông vừa được bộ văn hóa - thể thao và du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Hiện nay, tỉnh Đắk Nông đang xây dựng dự án phục dựng di tích này gồm các hạng mục như: nhà bảo tàng trưng bày những hiện vật, hình ảnh của nghĩa quân và cuộc kháng chiến; di tích đồn Bu Mêra, bia “tưởng niệm” Henry Maitre do thực dân Pháp xây dựng năm 1935 tại ngã ba biên giới: Nam Kỳ, Cao Miên và cao nguyên Trung phần; làng Bu Nơr - quê hương của nghĩa quân, cũng là nơi Henry Maitre bị nghĩa quân tiêu diệt vào năm 1914.

12. Chùa Pháp Hoa


Chùa Pháp Hoa nằm ngay ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Chùa được xây dựng vào năm 1957 với hai phần: chính điện và tháp năm tầng, cao khoảng 2 mét, kiến trúc ngôi chùa được mô phỏng theo kiểu kiến trúc nhà sàn Tây Nguyên, đồng thời xen lẫn với kiến trúc nhà vườn, tạo nên khung cảnh thanh tịnh.

Được xây dựng trên một ngọn đồi, cổng chính của chùa quay về hướng Đông Nam nhìn ra đường Hùng Vương, phía trước mặt là thung lũng. Khi đúng trên khuôn viên chùa nhìn xuống, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một phong cảnh tuyệt đẹp với những dãy núi đồi nhấp nhô nối tiếp nhau, cây cối xanh tươi chập chùng.

Vào bên trong, bạn có thể chiêm ngưỡng pho tượng Quan Âm Bồ Tát toạ lạc trong một khoảng không rộng rãi, được che phủ bởi hai cây phượng lâu năm. Chính điện chính của chùa có diện tích 160 m2, bên cạnh là ngôi tháp hình tròn có năm tầng.

Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn được trang trí nhiều chậu cảnh và nhiều loại hoa khác nhau, được sắp xếp hài hòa tạo cảm giác thanh tịnh và yên tĩnh.

>> Một số thắng cảnh tại Đắk Lắk - Tây Nguyên
>> Thắng cảnh du lịch Gia Lai - Tây Nguyên
>> Du lịch Tây Nguyên đến với Kon Tum


Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Du lịch Tây Nguyên đến với Kon Tum

Mấy bài trước mình đã đề cập đến 1 số thắng cảnh tại Đắk Lằk, Gia Lai. Hôm nay mình cùng các bạn tìm hiểu 1 số thắng cảnh tại Kon Tum


Kon Tum nằm ở phía bắc vùng Tây Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 150 km giáp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 127 km với Vương quốc Campuchia. Kon Tum có một số thắng cảnh mà bất kỳ du khách nào khi đến cũng không thể không ghé thăm

1. Di tích lịch sử cách mạng điểm Cao 601 cách TP.  Kon Tum 17 km về phía Bắc theo Quốc lộ 14, có một địa danh mà trong chúng ta hẳn nhiều người biết đến, đó là Dốc Đầu Lâu. Dốc Đầu Lâu là tên gọi dân gian mới có từ sau ngày xảy ra chiến sự tháng 4 năm 1972 giữa quân cách mạng và quân địch. Người Bah Nar Ở vùng này gọi địa danh đó là Kon Loong Phă, có nghĩa là dốc có nhiều cây Trắc và Điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi K’Rang Loong Phă.

2. Nhà thờ gỗ Kontum
Nằm ở nội vi thị xã, nhà thờ gỗ Kontum xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổ chức thi công, nay đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho nhiều du khách đến vùng đất Kontum.

Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đep, điệu nghệ như vậy mà được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa của người thợ. Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượng được tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các dân tộc. Du khách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm chính người dân tộc bản địa và uống rượu dâu, rượu nho do các nữ tu sỹ chế biến.

3. Vườn quốc gia Chư Mom Ray
Vườn quốc gia Chư Mom Ray có diện tích 56.621ha, thuộc huyện Sa Thầy và huyện Ngọc Hồi, nằm về phía Tây tỉnh Kontum. Đây là khu vườn quốc gia nằm ở vị trí ngã ba Đông Dương, tiếp giáp với hai khu bảo tồn thiên nhiên của Lào và Campuchia, Chư Mom Ray có triển vọng trở thành khu bảo tồn thiên nhiên liên quốc gia của Đông Nam Á, để bảo vệ tính đa dạng về sinh thái cũng như khu hệ động vật giàu có ở vùng này. Đặc biệt là bảo vệ các loài thú lớn đang có nguy cơ bị diệt vong như bò xám, hổ, voi…

Thực vật, khu vườn quốc gia Chư Mom Ray rất nhiều loại gỗ: ngành ngạch, lim xẹt, xoan nhũ, săng lẻ, các loại cây họ gạo, gõ, tháu táu cây bụi. Theo điều tra, bước đầu có 508 loài cây, thuộc 324 chi, 115 họ, là một trong những nơi có hệ thực vật cổ nhất nước ta. Về động vật, có nhiều loại thú móng vuốt như voi, bò tót và nhiều loại chim muông, gồm 352 loài động vật có xương sống, ở cạn.

4. Di chỉ khảo cổ học Lung Leng
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng (DCKCH Lung Leng) nằm ở thôn Lung Leng, xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật vô cùng phong phú. Bước đầu, một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử đã tái hiện.

Di chỉ khảo cổ hạc Lung Leng là một trong những di sản văn hóa lớn của cả nước. Qua di chỉ văn hóa này, chứng tỏ người tiền sử đã có mặt, sinh sống ở đây từ trước một vạn năm.

5. Ngục Kon Tum
Ngục Kon Tum nằm trong hệ thống nhà ngục của Thực dân Pháp. Nhà ngục được xây dựng khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Ban đầu đây là nơi bọn thực dân cai trị giam giữ những tù thường phạm. Nhưng về sau, khi tù chính trị cộng sản bị đày lên giam cầm tại đây, tính chất nhà ngục đã thay đổi, trở thành nơi giam giữ, đày ải tù chính trị với những âm mưu và hành động thâm độc, tàn ác của chính quyền cai trị thực dân Pháp.

Ngục Kon Tum, nơi địch đày ải giam cầm hàng trăm chiến sĩ cộng sản trung kiên, trong đó có nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, những đảng viên cốt cán của phong trào cách mạng lúc bấy giờ như các đồng chí: Lê Văn Hiến, Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Trương Quang Trọng, Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Huy Lung, Lê Viết Lượng... Những tấm gương kiên cường chiến đấu dũng cảm hy sinh của cách mạng đã có tác động rất to lớn đối với phong trào cách mạng ở Kon Tum những năm 1930-1934 và cả sau này.


6. Khu vực lòng hồ Ya Ly
Ya Ly đã thực sự là một cái tên rất quen thuộc đối với du khách trên mọi miền đất nước, khi nói đến Ya Ly người ta thường nghĩ đến cảnh đẹp, núi non hùng vĩ và là nơi tiềm ẩn những huyền thoại.Thuỷ điện Ya Ly đã hình thành một khu vực lòng hồ rộng lớn. Du khách có thể xuất phát từ làng du lịch ĐăkBlà ( thị xã Kon Tum) xuôi về làng văn hoá dân tộc Jarai ( phía trên đập thuỷ điện) nơi đây còn nguyên nét văn hoá sơ khai của dân tộc Tây Nguyên. Với cảnh quan thiên nhiên, con ngườia, khu vực lòng hồ Ya Ly thực sự là nơi thăm quan, du lịch lý tưởng với những người yêu thích thiên nhiên, tìm về cuội nguồn.

7. Khu du lịch bãi đã thiên nhiên Km 33 ( huyện Kon Rẫy)
Nằm trên quốc lộ 24, thuộc huyện Kon Rẫy, cách thị xã Kon Tum 23 km về phía Đông, khu vực được tạo nên bởi những bãi đá nối liền nhau, là nơi có phong cảnh trữ tình, êm ả đặc biệt vào mùa hè, khoảng trời mênh mông, ánh năng vàng vừa phải tạo cho du khách những cảm giác gần gũi với thiên nhiên. Hiện nay tuy chưa được đầu tư thoả đáng nhưng khu vực này là điểm hẹ của các cuộc gặp gỡ bạn bè và du khách đến Kon Tum.

8. Rừng thông Măng Đen (kon Plong)


Từ Kon Tum theo quốc lộ 24 về hướng Đông khoảng 55km, cách huyện lỵ Kon Plong chừng 10 km du khách đến một rừng thông bạt ngàn mênh mông trên một bình nguyên bao la ở độ cao 1.100 m so với mặt nước biển, có những cây thông đã được trồng từ lâu, sừng sững và cao vút. Rừng thông Măng Đen đang là điểm du lịch và nghỉ ngơi của nhân dân địa phương và du khách.

9. Suối nóng Đăk Tô - Thác Đăk Lung
Từ trung tâm huyện lỵ Đăk Tô, theo tỉnh lộ 672 đi về hướng Bắc 8 km tới địa phận xã Kon Đào, du khách đã tới suối nước nóng Đăk Tô, nước từ suối liên tục phun lên từ lòng đất được khoanh lại trong một lòng hồ nhỏ. Nước nóng đến 500c - 600c, rất giàu chất Ca, Mg, Na, Si và nhiều thành phần chất khoáng khác.Cách suối nước nóng khoảng 3 km về phía Đông là thác Đăk Lung, Thác thông lớn, nhưng khung cảnh thiên nhiên hài hoà, không gian tĩnh lặng, cảnh vật hoang sơ, nơi đây rất thích hợp cho những cuộc vui chơi dã ngoại.
Với di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, khu nghỉ mát Suối nước nóng Đăk Tô và thác Đăk Lung, hứa hện sẽ thu hut một lượng khách khá lớn từ các nơi đổ về nghiên cứu, tìm hiểu, thăm quan và nghỉ ngơi tại đây. Hiện nay tuy chưa được đầu tư thoả đáng đẻ trở thành khu, điểm du lịch những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh này đang thu hút nhân dân sinh sống trên địa bàn tỉnh đến thăm quan, nghỉ ngơi.

10. Rừng đặc dụng Đăk Uy
Rừng đặc dụng Đăk Uy cách thị xã Kon Tum 25 km về phía Bắc, theo quốc lộ 14 thuộc thị xã Đăk Mar, Hà Mòn - huyện Đăk Hà.

Rừng đặc dụng Đăk Uy có diện tích 690 ha, nằm ở một địa hình khá bằng phẳng, thuận lợi về mặt giao thông và các thuận lợi khác.

Rừng đặc dụng Đăk Uy có nhiều laọi gỗ quí sống hỗn giao, như Cẩm lai, giáng hương, gỗ trắc,... ở đây các cây dược liệu, các loại hoa cũng rất phong phú và đa dạng như Sa nhân, Sâm Nam,..., tại khu vực này có nhiều động vật quí hiếm sống như: Gấu chó, beo, nai, mang, lợn rừng, tê tê, chăn, rắn,... Rừng có nhiều loài chim như: Cò trắng, vạc, nhồng, sáo đen, gà rừng...tạo ra nét phong phú, sinh động cho một khu du lịch sinh thái.

Với những thuận lợi về phát triển du lịch, rừng đặc dụng Đăk Uy hiện nay là nơi thu hút đông đảo du khách đến thăm quan, tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ và đặc biệt các trường học trên địa bàn tỉnh thường xuyên tổ chức cho các em học sinh đến đây để thăm quan, tìm hiểu về các laọi gỗ quí, các loại động vật thực vật nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái của học sinh.

11. Di tích lịch sử ngục Đăk Glei
Ngục Đăk Glei nằm ở phía Bắc thị trấn Đăk Glei, đi theo quốc lộ 14. ngục được xây dựng năm 1932 là nơi thực dân pháp đã giam giữ các chiến sỹ cách mạng Việt Nam trong những năm 1932 - 1954. Di tích ngục Đăk Glei đã được xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia, nơi đây hàng năm vẫn là điểm hẹn của các cán bộ lão thành ôn lại nhưng kỷ niêm của thời đã qua. Du khách thăm quan khu du lịch này như thấy lại được tinh thần và ý chí cách mạng quật cường của những chiến sỹ cộng sản bị giam giữ, tù đày tại các nhà lao, nhà ngục của bon thực dân đế quốc.

12. Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh
Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh nằm trên một quả đồi có độ cao 600 m, cách thị trấn Đăk Tô 1 km về hướng Tây Nam. Di tích nằm trên quốc lộ 14 đoạn từ Đăk Tô đi Ngọc Hồi. Đây là chiến trường ác liệt nhất của khu vực Tây Nguyên, là căn cứ mạnh nhất của Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên.

Hiện nay di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia, du khách đến thăm quan sẽ thấy sừng sững giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô đài tưởng niệm chiến thắng thể hiện sự đoàn kết, chung sức chung lòng của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với đảng, là nơi tưởng niệm các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh tại nơi này, từ trung tâm thị trấn du khách sẽ nhìn thấy tấm bia lớn ghi lại chiến tích lẫy lừng của chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, sân bay Phượng Hoàng được Mỹ xây dựng trải dài trên 2 km theo đường đi huyện Ngọc Hồi, một số chiến sa của giặc vẫn được bảo quản, lưu giữ.

Với các giữ liệu lịch sử sinh động, hấp dẫn hiện đang được huyện Đăk Tô tôn tạo, bảo quản sẽ giúp rất nhiều cho các du khách muốn tìm hiểu về chiến trường Tây Nguyên, về truyền thống đấu tranh, truyền thống văn hoá của nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum và đặc biệt du khách đến thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu còn được thăm quan nét đặc trưng văn hoá cua dân tộc Tây Nuyên (nhà Rông văn hoá, các lễ hội, văn hoá, văn nghệ...) và nghỉ ngơi, thư giãn tại suối nước nóng Đăk Tô, Thác Đăk Lung thuộc địa phận xã Kon Đào.

13. Làng Konktu
Hằng ngày làng thường xuyên đón khách du lịch trong nước và quốc tế khi đến thăm tỉnh cực Bắc Tây Nguyên. Đến đây, du khách được chiêm ngưỡng những nét văn hóa đặc sắc còn nguyên sơ, với mái nhà rông truyền thống của người Bana cao vút, những nếp nhà sàn cổ kính. Đêm đến giữa sân nhà Rông của làng, củi được chất thành một đống to và được đốt lên, cái giá lạnh của cao nguyên sẽ bị xua tan hết, hơi ấm của sự mộc mạc, chân tình, gần gũi, thân thiện như hòa quyện nồng ấm giữa chủ và khách.

Nhà rông của làng Konktu (tìm hiểu về NHÀ RÔNG)
Du khách được xem chương trình biểu diễn cồng chiêng, với điệu múa xoang của các cô sơn nữ làng Konktu, cùng với rượu ghè thơm lừng ngây ngất hòa vào tiếng cồng chiêng bay bổng đến nức lòng. Đến đây khách có thể ngủ qua đêm tại nhà Rông của làng, cả con trai và con gái - đây là điều khác biệt của người Bana ở làng Kon Ktu so với rất nhiều dân tộc khác sinh sống trên vùng đất Tây Nguyên.

Đến Konktu, khách còn có thể đi thăm thác H'Lay và thác Mốp cách làng chừng 2000m, dòng thác tuôn trào trắng xóa đẹp như cô sơn nữ đang vươn mình chải tóc. Nếu thích, du khách sẽ được những người đàn ông Bana chèo thuyền độc mộc chở đi xuôi theo dòng Đắk Bla, dọc triền sông bạn có thể tha hồ ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, những cánh rừng nguyên sinh rủ bóng xuống lòng sông.

14. Hoàng hôn trên cầu Kon Tum
Đến Kontu, đi dọc làng du khách còn được tận mắt chiêm ngưỡng nhiều sơn nữ Bana xinh đẹp đang miệt mài ngồi dệt thổ cẩm, những chàng trai của làng thì đang đan gùi chuẩn bị cho việc nương rẫy vào năm sau.
Đến với Kontum, bạn sẽ được thỏa mãn đi thăm thú khắp nơi. Vùng đất Tây Nguyên luôn cuốn hút bởi những nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc, với phong cảnh hữu tình sẽ mang lại cho bạn những phút giây đáng nhớ.

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2011

Uống cà phê phòng chống bệnh

Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh: Uống cà phê với liều lượng vừa phải sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp và tiểu đường típ 2.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Thắng cảnh du lịch Gia Lai - Tây Nguyên

Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiên cũng như nhân tạo, Gia Lai có tiềm năng du lịch rất phong phú. Đó là những khu rừng nguyên sinh với hệ thống động thực vật phong phú, nhiều ghềnh thác, suối, hồ như Biển Hồ là một thắng cảnh nổi tiếng. Biển Hồ được xem như là một đôi mắt của thành phố núi Pleiku.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Một số thắng cảnh tại Đắk Lắk - Tây Nguyên

Bạn muốn đi du lịch? Muốn đến với vùng núi Tây Nguyên, nơi gắn liền với bao sử thi hào hùng? Thám phá nhiều điều thú vị tại núi đồi Tây Nguyên đặc biệt là các danh lam thắng cảnh tại tỉnh Đắk Lắk. Hãy cùng mình điểm qua 1 số thắng cảnh đẹp tại Đắk Lắk không thể bỏ qua khi đến

1. Công viên nước Đắk Lắk cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 4km về hướng Đông Bắc, là nơi có nhiều trò chơi nhất hiện nay tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Công viên có hệ thống thác trượt nước với nhiều trò chơi cảm giác mạnh, dòng sông lười bao toàn bộ khuôn viên dài 487m, khu vui chơi thiếu nhi, hồ tạo sóng...

2. Khu du lịch hồ Ea Kao nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 12km theo hướng Đông Nam. Hồ Ea Kao là một khu du lịch được xây dựng với quy mô lớn, hiện đại, nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc. (Xem thêm: hồ Ea Kao )


Hề Ea Kao

3. Khu du lịch Hồ - Đồi Thông Cư Dluê nằm ở phía Bắc phường Khánh Xuân, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 6km về hướng tây.  Đến với khu du lịch Hồ - Đồi Thông Cư Dluê, du khách sẽ được tận hưởng những phút giây thư giãn, nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng thẳng.

Đồi Thông Cư Dluê

4. Huyền thoại Hồ Lắk - Buôn Jun là một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn, nối với sông Krông Ana, rộng khoảng 500ha, nằm ở độ cao hơn 500m so với mặt nước biển. Nơi đây đang là điểm du lịch sinh thái độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước, với một vẻ đẹp tự nhiên thơ mộng của núi và rừng bao quanh. Hồ Lắk cách TP. Buôn Ma Thuột khỏang 56km về phía Nam, theo quốc lộ 27 đi Đà Lạt.

Được bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh của đại ngàn Tây Nguyên với diện tích hơn 12 nghìn ha nên khi tham quan hồ Lắk du khách còn được ngắm nhìn hệ động - thực vật đa dạng. Thống kê có 548 loài thực vật thuộc 118 họ, 132 loài chim, 61 loài thú, 43 loài lưỡng cư bò sát, trong đó có một số loài đặc hữu và quý hiếm. Bên cạnh đó, hồ Lắk còn là nơi trú ngụ của vô số loài thuỷ sinh, tôm cua cá và là nguồn lợi kinh tế lớn cho cư dân địa phương sinh sống ở khu vực quanh hồ.

Buôn Jun nằm tại thị trấn Liên Sơn, huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk. :Buôn Jun tựa mình bên hồ Lăk trong xanh thơ mộng, buôn Jun mang một vẻ đẹp nguyên sơ hiền hòa của buôn làng Tây Nguyên, luôn giữ cho mình những bản sắc truyền thống đã được bảo tồn qua bao thế hệ. (Tìm hiểu thêm về Hồ Lắk)

Hồ Lắk

5. Buôn Ako Dhong (Còn có tên khác là Cô Thôn) nằm về phía Bắc, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 2km. Buôn Ako Dhong có số dân gần 300 người với hơn 30 hộ, đa số là các dân tộc Ê Đê, M'Nông...

"Ako" tiếng Ê Đê có nghĩa là đầu nguồn, "Dhong" là lũng. Ako Dhong là lũng đầu nguồn. “Buôn lũng đầu nguồn” ăn nước con suối Ea Nhôn, có tiếng là buôn giàu có, còn được gọi là "Buôn nhà ngói" hay "Buôn Ama Rin". Đây là một trong những buôn người dân biết cách làm ăn, đời sống vật chất tinh thần của đồng bào khá cao, là nơi thu hút nhiều lượt khách du lịch đến thăm.

6. Buôn Đôn
thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, cách Tp. Buôn Ma Thuột 42km về phía Tây Bắc. Buôn Đôn từ lâu đã nổi tiếng không chỉ với cảnh quan của núi rừng, các phong tục mang đậm dấu ấn của vùng Tây Nguyên mà còn bởi truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.

7. Vườn quốc gia Yok Đôn nằm trên địa bàn huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 40km về phía Tây Bắc (trên đường đi khu du lịch Buôn Đôn). Vườn quốc gia Yok Đôn là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất nước ta với tổng diện tích 115.545ha.

Vườn quốc gia Yok Đôn có nhiều loại cây gỗ quý như giáng hương, cà te, cẩm lai, trắc, gỗ đỏ, sao lá tím…Rừng nguyên sinh chiếm trên 90% diện tích toàn vườn là môi trường sống lý tưởng cho các loài động thực vật.

Vườn quốc gia Yok Đôn hiện có 67 loài thú, 196 loài chim, 46 loài bò sát, 15 loài lưỡng cư và khoảng 100 loài côn trùng sinh sống. Nguồn động vật hoang dã không những phong phú và đa dạng mà còn rất đặc trưng cho hệ động vật vùng Đông Nam Á. Trong số 56 loài động vật quý hiếm của khu vực Đông Dương thì Yok Đôn có đến 36 loài và 17 loài được ghi trong sách đỏ thế giới như voi, trâu rừng, bò sừng xoắn, hươu sao, sơn dương, gà lôi, công, sáo, phượng hoàng… Đây còn là khu vực duy nhất ở Việt Nam có nhiều động vật quý tập trung với số lượng lớn như bò rừng, báo, nai cà tông, kỳ đà nước…Hệ thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng với 464 loài, trong đó nhiều loài chỉ có ở khu vực Tây Nguyên. Nơi đây cũng tập hợp nhiều loài hoa quý hiếm, chỉ riêng hoa phong lan đã có trên 23 loài với đủ màu sắc tuyệt đẹp. Yok Đôn là khu vực duy nhất ở Việt Nam bảo tồn kiểu rừng kho cây họ Dầu.(Xem thêm Vườn quốc gia Yok Đôn)

Vườn quốc gia Yok Đôn

8. Vườn Quốc gia Chư Yang Sin
Vườn Quốc gia Chư Yang Sin nằm trên ranh giới giữa hai huyện Lăk và Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 60km về phía Đông Nam. Vườn Quốc gia Chư Yang Sin là nơi ẩn chứa bao điều kỳ thú, hấp dẫn khách du lịch nhất là những nhà nghiên cứu khoa học bởi sự độc đáo và phong phú của tài nguyên thiên nhiên nơi đây.(Xem thêm Vườn Quốc gia Chư Yang Sin )

Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

9. Thác Thủy Tiên nằm cách xã Tam Giang, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk khoảng 7km về hướng đông bắc. Thác Thủy Tiên là một thắng cảnh nên thơ đã được nhiều người biết đến. Đúng như tên gọi của nó, thác Thủy Tiên mang một vẻ đẹp thơ mộng làm đắm lòng du khách bốn phương.
Đến nơi này, du khách sẽ được thả hồn mình trong tiếng suối reo giữa non ngàn bao la và hùng vĩ. Từ trên cao, nước chảy xuống từng bậc đá tung bọt trắng xóa, tạo thành bức tranh sinh động, huyền hoặc của cảnh sắc núi rừng Tây Nguyên.

10. Thác Krông Kmar cách trung tâm huyện Krông Bông khoảng 3km, là một thắng cảnh đẹp của Đắk Lắk.

Bắt nguồn từ đỉnh cao nhất của dãy Chư Yang Sin hùng vĩ được mệnh danh là mái nhà của Tây Nguyên, dòng Krông Kmar đổ xuống chân núi, tạo thành thác Krông Kmar mang dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng mà ai đã một lần đến đây hẳn sẽ còn nhớ mãi.

Ở phía đầu nguồn, từ trên đỉnh Chư Yang Sin, dòng nước tuôn tràn xuống tạo thành những bậc thác nối tiếp nhau. Dòng nước của Krông Kmar đổ xuống các bậc đá tung bọt trắng xóa, tạo nên một dây chuyền âm thanh ầm ào vang động cả khu rừng nguyên sinh. Cạnh những cột nước của thác có rất nhiều tảng đá to và phẳng như mặt bàn để du khách dừng chân ngắm cảnh hay tổ chức những cuộc liên hoan nhẹ ngay giữa lòng suối.(Xem thêm Thác Krông Kmar )

11. Tháp Chăm Yang Prông nằm ở xã Ea Rốk, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. Tháp còn có tên là tháp Chàm Rừng Xanh thờ thần Siva dưới dạng Mukhalinga (vị thần vĩ đại).

Tháp Yang Prong là ngôi tháp Chăm cổ duy nhất ở Tây Nguyên nằm bên dòng sông Ea H'leo, cách thành phố Buôn Ma Thuột gần 100km. Toàn bộ tháp Yang Prong được xây bằng gạch nung đỏ trên một nền cao bằng đá xanh. Tháp cao 9m, có đáy vuông, mỗi cạnh dài 5m. Chỉ có một cửa ra vào mở về hướng đông, còn ba mặt tường ngoài của tháp đều có 3 cửa giả. Đỉnh tháp nhọn như củ hành khá đặc biệt, khác với các kiến trúc các tháp Chăm thường thấy ở các nơi khác. Tháp Yang Prong là một di tích văn hóa có giá trị ở Tây Nguyên.(Xem thêm: Tháp Chăm Yang Prông)

Tháp Chăm Yang Prông
 12. Nhà đày Buôn Ma Thuột nằm ở trung tâm Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.Nhà đày Buôn Ma Thuột không những là chứng tích về tội ác của bọn Đế quốc - thực dân mà nó còn là trường học lớn đào tạo và rèn luyện nên những chiến sĩ cách mạng kiên cường của cách mạng Việt Nam.
Đến đây, bạn sẽ được thấy, được nghe, được biết thêm nhiều điều mới lạ về truyền thống đấu tranh oanh liệt của những chiến sĩ cộng sản thuở trước như: Hồ Tùng Mậu, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Hồng Chương, Bùi San, Trần Văn Quang, Ngô Đức Đệ, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Phụng Tân, Huỳnh Thanh... và biết bao nhiều người con ưu tú của mọi miền Tổ quốc.

13. Ngã sáu Buôn Ma Thuột khá thân quen với tên gọi "Ngã sáu Ban Mê" đầy chất thơ, nhạc, không ngừng biến đổi qua thời gian, ghi nhận những thăng trầm của lịch sử khai phá vùng đất cao nguyên Buôn Ma Thuột.

Người Buôn Ma Thuột những năm đầu thế kỷ 20 đã chọn cho mình một địa thế khá bằng phẳng để khai khẩn và lập nghiệp. Ngã sáu Buôn Ma Thuột, nơi giao lộ của những con đường đi lại giữa khu dân cư người Kinh với các buôn làng Ê Đê bản địa và đường về miền trung châu. Con đường xưa đất đỏ, quanh năm lầy lội vào mùa mưa và bụi đỏ về mùa khô, rồi đường được lát đá, bây giờ là đường rải nhựa phẳng lỳ thênh thang. Ngã sáu Buôn Ma Thuột đã có một bộ mặt bề thế mang dáng dấp của một phố thị trẻ, tựa như gương mặt một cô gái ở độ tuổi mới lớn.

Ngã sáu Buôn Ma Thuột
14. Mộ vua săn bắt Voi là lăng mộ của một vị tù trưởng đầy quyền lực và được nhân dân khắp vùng kính phục, người đã khai sinh ra Buôn Đôn, có công lớn trong buổi đầu tạo lập và phát triển nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nơi đây.

Khunjunob, tên thật là N' Thu K' Nul, sinh năm 1828, một vị tù trưởng đầy quyền lực và được nhân dân khắp vùng kính phục. Ông đã săn được hàng trăm Voi, trong đó có một con Voi trắng (Bạch Tượng) mà ông đã mang tặng Hoàng gia Thái Lan năm 1861. Vua Thái Lan rất cảm phục và phong tặng ông danh hiệu Khunjunob (Vua Săn Voi). Cả đời mình, ông đã sống, làm việc, lãnh đạo dân làng Buôn Đôn, rồi chọn chốn này làm nơi yên nghỉ cuối cùng, thọ 110 tuổi.

15. Bảo tàng dân tộc Đắk Lắk nằm ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Là nơi trưng bày các hình ảnh và hiện vật lịch sử, văn hóa đời sống của người dân tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra bảo tàng cũng trưng bày những hình ảnh về công cuộc sản xuất kinh tế của người dân Đắk Lắk sau ngày giải phóng: sản xuất nông công nghiệp, trồng cao su, cà phê, chế biến mủ cao su, làm thủy điện... các hoạt động y tế, du lịch... (Xem thêm: Bảo tàng dân tộc Đắk Lắk)

16. Thác Dray Nur - Gia Long

Nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Nam. Thác Đray Nur hiện được xem là thác hùng vĩ nhất Tây Nguyên, là sự kết hợp giữa 2 dòng sông, sông Krông Ana (sông cái) và sông Krông Nô (sông đực) hai dòng sông hoà trộn quấn quýt bên nhau tạo thành dòng sông Sêrêpốk huyền thoại ở Tây Nguyên. Thác có chiều dài trên 250 mét, chiều cao trên 30m nối liền đôi bờ 2 tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông.
Đến với thác Đray Nur, du khách còn tìm được những cảm giác mạnh khi chui vào hang đá bên trong lòng thác, đi cầu treo…hoặc thăm đời sống sinh hoạt của buôn làng, khai thác văn hoá truyền thống bản sắc dân tộc ở buôn Kuốp. (Xem thêm: Thác Dray Nur)

>> Lên Tây Nguyên khám phá vùng đất của bao sử thi hào hùng


Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Phân biệt cà phê thật và giả

Hằng ngày bạn vẫn thường thích uống cà phê, bạn thích ngồi nhâm nhi cà phê hết quán này đến quán khác thậm chí bạn ghiền cà phê đến nổi mua về để tự pha chế và thưởng thức. Nhưng trên thị trường cà phê được sản xuất ra quá nhiều làm thế nào để biết bịch cà phê bạn mua về thực sự là bịch cà phê? Và làm thế nào để biết ly cà phê mà bạn thưởng thức có phải hoàn toàn chỉ là cà phê nguyên chất có lợi cho sức khỏe, cho tuổi thọ, cho nhan sắc của bạn... Hãy cùng tìm hiểu bài viết sau:

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Thác Krông Kmar - Miền Trung Tây Nguyên

Thác Krông Kmar là một thác nước lớn và là thắng cảnh du lịch của tỉnh Đăk Lăk. Thác thuộc thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, nằm cách Buôn Ma Thuột 60 km.cách trung tâm thị trấn Krông Kmar 4 km.

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Lên Tây Nguyên khám phá vùng đất của bao sử thi hào hùng

Lễ 2/9 bạn và gia đình đã có kế hoạch đi du lịch nghỉ lễ đâu đó chưa? Hãy thử một lần xách ba lô đi du lịch Tây Nguyên đến với núi rừng cao nguyên, đến với các bộ lạc dân tộc... để cảm nhận không khí trong lành tại vùng đất Tây Nguyên, vùng đất của bao sử thi dân gian hào hùng của dân tộc Êđê và Mnông cũng như thưởng thức hương vị cà phê, chén rượu cần, nghe âm thanh của tiếng cồng chiêng...  vốn nổi tiếng tại nơi đây

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Du lịch cà phê - khám phá về thác Dray Nur

Lâu nay nhiều người vẫn cho rằng, du lịch Đắk Lắk chỉ mạnh về văn hoá, sinh thái và voi... nhưng mới đây, tôi lại phát hiện ra du lịch Đắk Lắk còn có nhiều điều thú vị hơn, hấp dẫn hơn đó là khám phá hang động và tìm kiếm cảm giác mạnh trong lòng ngọn thác hùng vĩ nhất Tây Nguyên - thác Dray Nur; không những thế khi đến đây bạn còn được “massage nước”.


Thác Dray Nur là thác trung nguồn nằm trong hệ thống ba thác: Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông.

Cách TP. Buôn Ma Thuột gần 30 km theo hướng về TP. HCM, thác Dray Nur khiến du khách ngỡ ngàng về "bức tường nước" cao 30m, dài gần 200m, nối 2 tỉnh Đăk Nông và Đắc Lắk.

Từ độ cao hơn 30m, dòng nước đổ xuống vực sâu tạo nên bức tranh hùng vĩ và huyền bí như truyền thuyết về sự ra đời của thác.


Thác Dray Nur gắn với hai truyền thuyết khác nhau, với hai cách giải thích tên khác nhau. Với giải thích Dray Nur - nghĩa là thác cái, thác vợ - thác gắn liền với mối tình “Romeo và Juliet” của núi rừng. Chuyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái của hai bản khác nhau yêu nhau tha thiết nhưng do hai bản có xung đột với nhau nên tìm đủ mọi cách ngăn cấm. Không nhận được sự cảm thông của dân làng, không thể hòa giải xung đột giữa hai bản, vào một đêm trăng, cả hai đã nhảy xuống sông để trọn đời bên nhau. Tức giận vì sự ích kỷ của dân làng dẫn đến quyết định sai lầm của đôi trẻ, trời nổi cơn giông bão, nước cuồn cuộn dâng cao, chia sông thành hai nhánh, ngăn cách đường đi của 2 dòng tộc.

Truyền thuyết khác lại bắt nguồn từ hang động phía sau thác, nơi được cho là nơi ở của vua thủy tề. Ngày xưa vua Thủy Tề có một đứa con trai tên là Nur, chàng hoàng tử rất khôi ngô tuấn tú và rất thích chu du ngắm cảnh. Một ngày nọ, chàng gặp 2 nàng công chúa, con của vị vua vùng đất mình ngang qua. Hai nàng rất xinh đẹp nhưng do vua cha mất sớm nên cuộc sống trở nên nghèo khó, phải đào củ mài mà ăn. Thương hai nàng vất vả, chàng theo nàng về nhà, làm phép để thạp gạo trong nhà đầy tràn, và sống hạnh phúc cùng hai nàng.

Một thời gian sau, chàng nhớ vua cha, muốn về thủy cung thăm người. Nhưng công chúa, vợ chàng lo sợ nếu chồng đi thì sẽ rất lâu, thậm chí không trở về nên tìm đủ mọi cách giữ chàng, một bước không rời. Không còn cách nào khác, chàng đành hóa thân thành con dũi vàng, vượt màn nước vào động thăm cha. Người vợ cứ đứng đợi bên ngoài, đợi mãi, đợi mãi vẫn không thấy Nur trở lại. Từ đó, người dân nơi đây gọi ngọn thác này là Dray Nur, nghĩa là thác con dũi vàng.

Hai truyền thuyết khác nhau nhưng những dòng nước lao từ những vách đá thẳng đứng, vỡ ra từng giọt, tung tóe vào nhau, xô đẩy nhau của thác lại giống nhau ở một điểm, đó là tựa như những giọt nước mắt khóc kẻ ở người đi.

Đến với Dray Nur, cảm giác đầu tiên đến với bạn sẽ là một ngọn thác thật hùng vĩ. Bọt tung trắng xóa, hơi nước ngập tràn khiến quang cảnh xung quanh thác còn nên thơ. Nhưng hấp dẫn nhất không phải việc chiêm ngưỡng thác mà là khám phá, tìm kiếm cảm giác mạnh trong hang động rộng gần 3.000m2 phía sau thác.

Nhìn màn nước mạnh mẽ, ào ạt lao từ độ cao vài chục mét xuống, không ít người rùng mình, song hầu hết đều muốn trải qua cảm giác phiêu lưu khi lao thẳng người qua màn nước, cảm nhận cái rát của nước khi dội vào đầu, vào vai. Cảm giác từ một nơi trán ngập ánh sáng, chìm trong bóng tối của hang động. Độ an toàn của việc lao vào màn nước được đảm bảo khá cao với những chiếc áo phao cho du khách mặc vào người và những tay bơi chuyên nghiệp được bố trí gần đó.

Khi đứng từ bên trong nhìn ra. Tường nước dài bao bọc phía trước, ánh sáng nhập nhoạng soi những tảng đá hình thù kỳ dị tưởng như là hóa thân của tướng tôm, tướng cá. Ánh sáng lung linh bảy màu của màn nước khi ánh đèn pin rọi vào khiến du khách có cảm giác mình đứng dưới cung diện của vua Thuỷ Tề, nơi mà chỉ vài phút trước, những buổi chầu của Long Vương diễn ra uy nghiêm.

Sau khi hưởng trọn những cảm giác mạnh trong lòng ngọn thác hùng vĩ này, bạn có thể thưởng thức những món ăn dân dã, mang đậm bản sắc ẩm thực của các dân tộc Tây Nguyên với các loại cá đặc sản của sông Sêrêpốk như cá lăn, cá bống đá, cá trắng, ếch cuốn lá lục vừng...







Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Bảo tàng cà phê và bảo tàng Tây Nguyên

Sau những trải nghiệm về cà phê, thưởng thức hương vị cà phê, cuối cùng thông gian Làng cà phê, nơi bước chân khách tham quan được dẫn bởi hàng đá xếp trên mặt nước và những cây cầu nhỏ là không gian nhà dài Ê-đê trưng bày nững hiện vật cổ có giá trị lớn nhất, lâu đời nhất của văn hoá Tây Nguyên. Làng cà phê chọn vị trí trung tâm này để tôn vinh 2 giá trị: cà phê và văn hoá bản địa.


+ Tầng 1: là nơi trưng bày Bảo tàng Tây Nguyên, hàng trăm hiện vật độc đáo thể hiện được văn hoá của người dân bản địa đã được Trung Nguyên dày công sưu tầm đang được trưng bày tại đây.

 
+ Tầng trệt: là nơi trưng bày một phần của Bảo tàng cà phê thế giới với hàng ngàn hiện vật, những người yêu cà phê có thể khám phá các văn hoá cà phê khác nhau thông qua bảo tàng này.

 
Những giàn chiêng quý nằm kề chén rượu, những bộ nông cụ cổ truyền được sắp đặt cùng công cụ nghề săn voi... là tư liệu quý giúp những người yêu mảnh đất Bazan trù phú hiểu về một miền cao nguyên hoang sơ thưở trước với những đêm đại ngàn âm vang tiếng cồng chiêng và tiếng kể sử thi huyền bí, ồng men rượu cần. 

Chính vì vậy, không phải nhẫu nhiên, Làng cà phê trở thành điểm hẹn của những con người tinh hoa yêu vùng đất Tây Nguyên và đam mê cà phê như nhạc sĩ Dương Thụ, Nguyễn Cường, hoạ sĩ Lê Thiết Cương, nhà văn Nguyên Ngọc, kiến trúc sư Nguyễn Văn ất, đạo diễn Lưu Trọng Ninh... Đây cũng là niềm tự hào của thành phố Buôn Ma Thuột được giới thiệu và đón tiếp hàng trăm đại sứ, các vị khách ngoại giao, chuyên gia, khách quốc tế... Trong chuyến khảo sát chuẩn bị dự án thiết kế Bảo tàng cà phê thế giới, kiến trúc sư tài ba người Nhật Arata IsoZaki nổi tiếng với các công trình Nhà hoà nhạc Kyoto, Bảo tàng nghệ thuật hiện đại của Los Angeles, tháp nghệ thuật Mito đã đến thăm Làng cà phê và thốt lên rằng: "Một không gian cà phê hiếm có trên thế giới".

Cùng với không gian trưng bày sản phẩm và các đặc sản Tây Nguyên được tạo ra hình từ lá cà phê cách điệu và những cụm cỏ cây hoa lá sắp đặt tinh tế, tổng thể không gian của Làng cà phê Trung Nguyên là một mô thức đẹp của kiến tạo không gian, nơi có khả năng khơi dậy những đam mê và sức sáng tạo mạnh mẽ của con người, là điểm hẹn du lịch đặc biệt, hấp dẫn của thành phố cao nguyên Buôn Ma Thuột


Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

Thưởng thức cà phê Việt Nam

  • Cà phê đen nóng: Bỏ cà phê xay vào fin cà phê, ép chặt cà phê, rồi chế nước sôi lên. Hứng cà phê rỉ ra từ dưới fin. Có hoặc không thêm đường tùy sở thích. (fin=filtre, có nguồn gốc tiếng Pháp, hay filter trong tiếng Anh). Fin thường làm bằng nhôm, nhưng ngày nay do nhu cầu cao của cuộc sống, dịch bệnh lan tràn các loại phin nhôm dần được thay thế bằng loại phin giấy sử dụng một lần "ly cà phê phin tiện dụng "
  • Cà phê sữa nóng: dưới đáy ly/cốc có để sẵn sữa đặc (nhiều ít tùy ý), cà phê nóng rơi xuống từ fin (xem hình bên), quấy đều. Theo thói quen, cà phê nóng và cà phê sữa nóng thường uống vào buổi sáng sớm trong/trước bữa ăn sáng. Nhiều người uống cà phê nóng/ cà phê sữa nóng mà không cần ăn sáng.
  • Cà phê đá, như cà phê nóng, nhưng cà phê pha đặc (nhiều bột cà phê), rồi thêm đá lạnh, có người thích bỏ đường, có người không, tùy "gu".
  • Cà phê sữa đá: Như cà phê sữa nóng, nhưng pha thật đặc (nhiều cà phê, nhiều sữa), rồi cho thêm đá lạnh, quấy đều.
  • Bạc xỉu (không rõ nguồn gốc từ này, có thể từ tiếng Hoa? chỉ phổ biến trong miền Nam): Như cà phê sữa, nhưng lượng sữa nhiều hơn, và ít cà phê hơn, thích hợp cho nữ giới; có thể thay sữa đặc bằng sữa tươi. Có hai loại, bạc sỉu nóng và bạc xỉu đá.
  • Cà phê trứng - có hai loại:
    1. Đập một quả trứng sống vào một tách cà phê nóng, thêm đường, có hoặc không có sữa;
    2. Lòng đỏ trứng được đánh bông thành kem, phía dưới có một lượng nhỏ cà phê đen.

    • Cà phê chồn (hay gọi theo tiếng Indonesia là Kopi Luwak) từng có mặt ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20 và mất đi cùng với việc loài chồn (đúng ra là cầy) hay ăn hạt cà phê ở Tây Nguyên gần như tuyệt chủng do bị săn bắt tràn lan. (Xem thêm về cà phê chồn)
      Cà phê tại Việt Nam thường được thưởng thức qua các phin cà phê (gốc là từ filtre trong tiếng Pháp). Hạt cà phê thường được xay nhỏ, nén vào trong các phin và nước sôi được đổ lên trên để được lọc vào một ly, hay tách, tại bên dưới của phin. Có nhiều loại phin cà phê mà hai loại thông dụng nhất được làm bằng nhôm hay inox, ngoài ra còn có phin tiện dụng bằng giấy chỉ sử dụng một lần. Có tên là "ly cà phê phin tiện dụng" sản phẩm do một sinh viên trường y sáng chế, ưu điểm và hoạt động như một phin truyền thống đã có từ xa xưa.
      Cà phê mang đi là dạng cà phê nhanh, dùng cho những người bận rộn và thường xuyên di chuyển. Dạng cà phê này không ngồi lại quán thưởng thức mà có thể mang đi uống, rất tiện lợi về mặt thời gian và không gian cho mọi người. Cà phê mang đi gồm có nhiều loại từ cà phê Việt Nam cho đến cà phê Cappuccino của nước ngoài.

      >> Cà phê cách pha như thế nào?

      Lịch sử phát triển cà phê


       850: Một chàng chăn dê tò mò đã khám phá ra cà phê là một thức uống tuyệt vời
      Câu chuyện về cà phê thì rất nhiều, thực hay hư cũng ít ai kiểm chứng. Hoặc giả nhiều khi người ta phóng đại những chuyện nhỏ thành chuyện lớn cho "mùi" cà phê thêm đậm đà, chẳng hạn như "cà phê dãi chồn" mà dân ghiền người Việt thường kể cho nhau nghe. Câu chuyện lãng mạn hơn cả có lẽ là truyện một anh chàng chăn dê tên là Kaldi, người xứ Abyssinia.
      Một hôm anh ta ngồi trên một tảng đá cạnh một sườn núi bỗng nhận ra đàn dê vốn dĩ ngoan ngoãn hiền lành của mình đột nhiên có vẻ sinh động lạ thường. Sau khi đến gần quan sát kỹ hơn, Kaldi thấy những con dê đã đớp những trái màu đo đỏ ở một cái cây gần đó. Anh ta cũng liều lĩnh bứt một vài trái ăn thử và cũng thấy mình hăng hái hẳn lên, tưởng như tràn đầy sinh lực.
      Người chăn dê nghĩ rằng mình đã gặp một phép lạ, vội vàng chạy về một tu viện gần đó báo cho vị quản nhiệm. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một thứ trái cấm của quỉ dữ, lập tức vứt những trái cây chín đỏ kia vào lò lửa. Thế nhưng khi những hạt kia bị đốt cháy tỏa ra một mùi thơm lừng, người tu sĩ mới tin rằng đây chính là một món quà của Thượng Ðế nên vội vàng khều ra và gọi những tăng lữ khác đến tiếp tay. Những hạt rang kia được pha trong nước để mọi người cùng được hưởng thiên ân.


      Giữa những năm 800: Những người Hồi Giáo ở Aden được ghi nhận là những người uống cà phê đầu tiên

      Thế kỉ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập
      1453: Thổ Nhĩ Kì ban hành luật lệ mới, cho phép một phụ nữ li dị chồng mình nếu không chịu đưa cà phê cho cô ta.
      Cà phê trở nên phổ biến ở châu Âu, tuy bị cấm ở một vài nơi. Vua Pope Clement VIII cấm việc uống cà phê

      1511: Thủ tướng một nước Hồi Giáo, Khair Beg, ra lệnh cấm cà phê vì sợ nó gây những ý kiến phản đối do luật lệ mà ông ta đặt ra. Kết quả là ông đã bị sát hại bởi những người Sultan
      1517: Cà phê được biết đến lần đầu tiên ở Constantinople (Istanbul ngày nay)
      1554: Quán cà phê đầu tiên ở châu Âu đã được mở ở đây bất chấp sự phản đối của nhà thờ.
      1570: Cùng với thuốc lá, cà phê lần đầu tiên xuất hiện tại Venice
      Cuối thế kỉ 15: Cà phê ngày nay được sáng chế (người ta biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống)

      1600: Thông qua những nhà buôn người Ý, các nước phương Tây lần đầu tiên biết đến cà phê
      1645: Quán cà phê đầu tiên của Ý được mở ở Venezia
      1650: Cà phê được ưu thích cuồng nhiệt tại Ấn Độ
      1652: Ở London lần lượt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên của vương quốc Anh
      1656: Việc uống cà phê và mở tiệm cà phê bị cấm tại Thổ Nhĩ Kỳ
      1659: Ở Pháp những quán cà phê được khai trương
      1668: Cà phê đã thế chỗ bia, trở thành thức uống bữa sáng được yêu thích
      1669: Cà phê trở nên phổ biến ở châu Âu
      1683: Wien cũng có quán cà phê đầu tiên (do một người Ba Lan thành lập)

      1700: Người Hà Lan và Pháp đã tiến hành cuộc chinh phạt và chiếm đảo Java và Martinique làm thuộc địa, bắt đầu việc gieo trồng cà phê ở đây. Hầu hết cà phê mà chúng ta gieo trồng ngày nay là giống hạt Arabica có xuất xứ từ Etiopia qua Yemen
      1710: Người ta đã đem cây cà phê về châu Âu và trồng thử trong các khu vườn sinh vật
      1714: Cà phê xuất hiện chính thức tại Mỹ.
      1721: Tiệm cà phê đầu tiên ở Beclin được khai trương
      1732 Johann Sebastian Bach sáng tác ra bản Kanata cà phê (Coffee Canata)
      1773: Uống cà phê được coi là "nghĩa vụ quốc gia" đối với mỗi công dân Mỹ

      Cuối thế kỉ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt đới
      1822: Máy espresso đầu tiên được tạo ra tại Pháp
      1825: Cà phê xuất hiện ở Haoai
      1850: Một người Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo đã đưa cà phê du nhập vào Việt Nam
      1865: James Mason phát minh ra máy pha cà phê (percolator)
      1887: Cà phê xuất hiện ở Indochina
      1896: Cà phê được giới thiệu với người Úc

      Đầu những năm 1900: Uống cà phê vào bữa trưa trở thành một thời gian "bắt buộc" ở Đức
      1901: Luigi Bezzera phát minh ra máy chiết tách hương vị của cà phê
      1908: Melitta Benz phát minh ra phin pha cà phê
      1909: Cà phê uống liền được tung ra thị trường
      1938: Nescafe (cà phê sấy bằng phương pháp đông lạnh) được phát minh
      1942: Trong chiến tranh thế giới thứ hai, lính Mỹ được phát khẩu phần gồm cả cà phê uống liền hiệu Maxwell House
      1971: Hãng cà phê Starbuck mở đại lý đầu tiên tại Seattle

      Now: Brazin trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn nhất
      Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới
      Mỹ là nước nhập cà phê lớn nhất thế giới

      Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

      Những chuyến du lịch khám phá cà phê

      Từ Ethiopia tới Cuba, từ Seattle tới Colombia, có rất nhiều địa điểm bạn có thể chọn lựa cho một chuyến đi vì đam mê với cà phê.

      Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

      Cà phê cứt chồn - đắt tiền và hiếm nhất thế giới

      Cà phê chồn hay còn gọi là Kopi Luwak là một loại cà phê rất đặc biệt, được xếp vào  hàng “cực phẩm” trong giới cà phê và cũng là loại đồ uống hiếm có và đắt đỏ nhất trên thế giới. Đây là một thứ cà phê mà chúng ta chỉ có nghe nói đến mà thôi, chớ ít có ai biết mùi vị thật sự của nó ra sao.

      Nó có lịch sử lâu đời từ hàng trăm năm trước khi vào khoảng đầu thế kỉ 18, những người Hà Lan đã đem cây cà phê du nhập vào các nước thuộc địa của họ trong đó có đảo Java và Sumatra của Indonesia.

      “Kopi” trong tiếng Indonesia có nghĩa là cà phê còn “Luwak” là tên một vùng thuộc hòn đảo Java của Indonesia đồng thời là tên một loài cầy cư trú tại đây. Kopi Luwak được dùng để chỉ một loại hạt do loài cầy này ăn quả cà phê rồi thải ra.



      Loài cầy vòi đốm là loại động vật có vú nhỏ sống phân bố rải rác ở các nước vùng Đông Nam Á như Indonesia, Philippines, Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Thức ăn ưa thích của chúng là quả cà phê nên về đêm, chúng thường đi tìm các trái cà phê thật chín cây để ăn. Chúng chỉ ăn lớp ngoài của trái cà phê và nuốt luôn tất cả hạt vào trong bụng. Trong đường tiêu hóa, hạt cà phê bị các enzymes làm cho lên men và tạo cho chúng một hương vị đặc biệt.

      Nhưng dạ dày của chúng chỉ tiêu hóa được phần thịt bên ngoài của quả cà phê nên sau đó đã thải những hạt cà phê ra cùng với phân của chúng. Người dân nơi đây sẽ đi thu lượm phân có lẫn hạt cà phê của loài cầy này.
      Zoom kĩ hình dạng của chúng này ...

      Những người đã trải nghiệm loại cà phê này nhận xét cà phê chồn có vị thơm ngon đặc biệt và là sự hòa quyện của rất nhiều hương vị. Nó được miêu tả là có "mùi mốc" rất hấp dẫn, ngọt ngào như sirô, hương vị đậm đà và thoang thoảng vị caramel và sôcôla, đắng nhưng rất dễ chịu.


      Hiện nay, trên thế giới Indonesia là quốc gia chuyên sản xuất cà phê cứt chồn Kopi Luwak (tiếng Indonesia, Kopi là cà phê, Luwak là chồn).

      Sumatra, Java, Bali và Sulawesi là những vùng của Indonesia được nhắc nhở nhiều về cà phê cứt chồn. Tại những nơi nầy, các giống cà phê như Robusta và Arabica được trồng rất nhiều. Những cánh rừng hoang du sầm uất bao phủ các bán đảo Indonesia cũng là nơi sinh sống của một loại chồn mà có người còn gọi là cầy hương (palm civet, musang, toddy cat) và có tên khoa học là paradoxurus hermaphroditus.




      Theo kỹ nghệ cà phê cho biết, thì cả thế giới mỗi năm chỉ có thể sản xuất được vào khoảng từ 200 đến 300kg cà phê cứt chồn thứ thiệt mà thôi.

      Philippines cũng có sản xuất cà phê cứt chồn mà họ gọi là Kape Alamid…

      Tại Việt Nam nghe nói cũng có cà phê cức chồn (weasel coffee), đặc biệt là ở vùng cao nguyên Ban Mê Thuột. Không biết có bạn nào có dịp thưởng thức chưa?

      >> Trải nghiệm về cà phê tại núi rừng Tây Nguyên
      >> Tìm hiểu về các loại cà phê