Hiển thị các bài đăng có nhãn tour du lich. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tour du lich. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Đồi mộng mơ nét duyên của thành phố đà lạt

Đồi Mộng Mơ nguyên là khu du lịch Hồ Rồng nằm trên một ngọn đồi ở phía đông bắc thành phố du lich Da Lat. Đồi Mộng Mơ nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5km trên đường đi đến Thung lũng Tình yêu, Đồi Mộng Mơ là một điểm du lịch khai trương năm 2003 nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

Đến khu du lịch Đồi Mộng Mơ, du khách sẽ tham quan vườn hoa lan, cây cảnh, thiên nhiên hữu tình, thác nước nhân tạo, nhà Việt cổ, vườn thơ Hàn Mặc Tử, tượng cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, làng văn hoá dân tộc, trích đoạn Vạn lý trường thành, gian hàng đá cảnh thiên nhiên, khu triển lãm sinh vật lạ, hầm rượu “Mộng Mơ tửu”,…

Ở đồi Mộng Mơ, có rất nhiều nơi bạn có thể đặt chân đến và đảm bảo bạn sẽ ngất ngây với những khung cảnh đẹp như tranh của tự nhiên. Ấy là Thác vàng cao 10m tuôn trào xuống một dòng suối lô nhô sỏi đá; Nhà Việt cổ khoảng 300 năm tuổi vốn là nhà của một viên quan thời Tây Sơn; Vườn thơ Hàn Mặc Tử được trang trí với vườn hoa, cây cảnh và những vần thơ của Hàn Mặc Tử khắc trên bảng gỗ; Tượng bán thân cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được Phạm Văn Hạng điêu khắc đặt giữa rừng thông để tưởng nhớ đến một nghệ sĩ tài hoa của thế kỷ XX đã học ở Trường Sư phạm Quy Nhơn và có một thời dạy học ở Bảo Lộc; Vạn lý trường thành dài hơn 1km uốn khúc qua hai ngọn đồi...

Khu du lịch Đồi Mộng Mơ còn có nhà hàng Hạnh Phúc với sức chứa 400 khách, thực đơn phong phú, hấp dẫn. Du khách có thể lưu trú tại khu Bungalow với những nhà nghỉ dạng nhà rông, tiện nghi cao cấp, không khí ấm cúng và an toàn. Khu du lịch Đồi Mộng Mơ cũng cho thuê lều dã ngoại, tổ chức lửa trại giao lưu, chương trình ca múa nhạc dân tộc Tây Nguyên trên sân khấu lộ thiên hoành tráng hằng ngày từ 15 giờ đến 22 giờ theo yêu cầu của du khách.

Bài tương tự
>> Đồi mộng mơ nét mới của du lịch đà lạt

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Thác Pongour thắng cảnh đẹp tại Đà Lạt

Thác Pongour là một ngọn thác nổi tiếng đẹp mơ màng, hùng vĩ, hoang dã nhất của Nam Tây Nguyên. Do đó, nếu bạn đi du lich Da Lat khách không thể quên được thác Pongour.

Thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, cách huyện lỵ 20km và xa trung tâm thành phố Đà Lạt 50 km. Trên quốc lộ 20 Đà Lạt - Sài Gòn, đến xóm Trung (phía núi Chai) rẽ về phía tay phải đi một quãng đường đất dài độ 8 km du khách sẽ đến được thác Pongour mà người dân địa phương gọi là thác Bảy Tầng hay là thác Thiên Thai.

Về tên gọi Pongour có hai giả thuyết như sau: Thứ nhất, Pongour là do tên người Pháp phiên âm từ tiếng dân tộc bản địa (K'ho: Pon - gou (với nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng). Qua một số tài liệu địa chất học của người Pháp, vùng này có nhiều kaolin. Như vậy, Pongour có nghĩa là ông chủ hay ông vua xứ Kaolin.

Giả thuyết thứ hai hiện nay khá phổ biến, được nhiều người nhắc đến: Pongour xuất phát từ ngôn ngữ K'ho có nghĩa là bốn sừng tê giác (Pon: bốn, gou: sừng).

Thác Pongour có lịch sử từ nhiều người, nhiều giai đoạn và ngày nay có ngày kỷ niệm. Đó là dịp trăng tròn đầu tiên của mùa ấm áp, núi rừng khởi sắc để làm ngày "kỷ niệm" cho bộ tộc của nàng. Trong những năm 60 của thế kỷ này, nhiều người Hoa ở Tùng Nghĩa (Đức Trọng) nhân tết Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) thường tổ chức các cuộc viếng chùa miếu, lăng tẩm, các thắng cảnh, các di tích lịch sử kết hợp với phong tục của dân bản địa (K'ho, Churu) và người các dân tộc di cư 1954 (Thái, Thổ, Tày, Nùng...) cùng đặt ra lễ thác Pongour (thường gọi là thác Thiên Thai). Vào rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm từng đoàn người từ các thị trấn Liên Nghĩa, Cao Bắc Lạng, Lục Nam... của Đức Trọng và các vùng Brơtel, Phú Mỹ, Lạc Sơn, Bằng Tiên, Ngọc Sơn, Đinh Văn... của Lâm Hà nườm nượp trẩy hội thác Pongour.

Trong dịp này, nam thanh nữ tú Bắc Nam, Kinh-Thượng, Hoa-Việt, Thái-Tày... đều rộn rã du xuân, hồ hởi vượt qua bảy tầng thác Pongour, mong vào được chốn Thiên Thai. Đây là dịp mà người ta không còn phân biệt Kinh-Thượng. Họ tự trao đổi tâm tình, tìm hiểu và yêu mến nhau. Tục truyền rằng: những ai không thành thật, không chung thủy, những kẻ bất tín, bội thề đã đến thác Pongour, thì ít khi được trở về; nàng Ka Nai nổi giận, do đó sai Yàng Pongour giữ lại những ai thuộc diện người nói trên tại dòng thác Pongour để nàng dạy cho họ những bài học về con người ... Có người không dám đến Pongour là vì thế. Nhưng đến du lịch Đà Lạt mà không đến thăm Pongour thì cũng như chưa đi du lịch Đà Lạt, chưa thấy được vẻ mơ màng hoang dã của Nam Tây Nguyên. Và những ai trong sáng thì có ngại gì. Những năm gần đây du khách đến trẩy hội Pongour ngày càng nhiều và thật vui mừng là hàng ngàn du khách lên Đà Lạt đến thăm Pongour đều bình an trở về. Phải chăng Yàng Pongour đã thẩm định đích xác lòng người?


Du lịch Đà Lạt đến với núi Lang Biang


Núi Lang Biang còn được gọi là Núi Mẹ, gồm 2 ngọn, có độ cao 2.167m. Chuyện xưa kể rằng có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết - chàng K'lang và nàng Hơ Bian. Do lời nguyền thù hằn của hai bộ tộc mà hai người đã phải chia lìa. Nàng sau khi chết đã hóa thân thành dãy núi mà người dân tộc Hơ Ho-lạch gọi là Núi Mẹ và sữa từ bộ ngực của nàng đã tuôn tràn thành những dòng suối, dòng thác tươi mát cho đời. Từ đó hai ngọn núi được đặt tên là Lang Bian.

Vị trí: Núi Lang Biang nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương, cách trung tâm thành phố du lich Da Lat 12km về phía bắc.

Đặc điểm: Đây là địa điểm thích hợp cho các nhà dân tộc học, cho các du khách yêu văn hoá truyền thống đến nghiên cứu văn hoá của các dân tộc Nam Tây Nguyên.


Tỉnh Lâm Ðồng có địa hình không bằng phẳng với 3 cao nguyên: Lang Biang-Ðà Lạt, Ðran-Liên Khương, Blao-Di Linh và một bình nguyên Ðạ Huai-Cát Tiên. Cao nguyên Lang Biang vào đầu thế kỷ 19 vẫn còn là một vùng đất thưa dân, hiểm trở. Người bản địa tập trung trong một số làng, đông nhất là Dankia. Qua một thế kỷ, diện mạo của cao nguyên Lang Biang thay đổi nhiều, trừ một vài nơi như vùng đồi Cù chống hạn. Từ trung tâm thành phố du lịch Ðà Lạt, sau 15 phút đi bằng xe máy hoặc xe ôtô, du khách đã có thể đến chân núi Lang Biang huyền thoại nơi có những bản của đồng bào dân tộc Tây Nguyên như: dân tộc Lát, Chil (K' Ho)...Ngày nay người Lạch đến định cư ở đây nên buôn làng gắn bó với ngọn núi này. Từ tháng 11/1999, khu vực này đã được giao cho Công ty du lịch tỉnh Lâm Ðồng, với tên gọi là khu du lịch Lang Biang. Ðịa hình của Lang Biang rất thích hợp cho kiểu du lịch dã ngoại để tìm một chút hơi lạnh của miền sơn cước. Tại chân núi có nhiều khu đón khách. Ngoài những cơ sở nghỉ ngơi cao cấp, còn có khu cắm trại và nhiều dịch vụ cần thiết cho du khách. Họ dừng lại đây để nghỉ dưỡng tham quan thắng cảnh. Một số cắm trại qua đêm, quây quần bên ánh lửa với ché rượu cần, nghe những khúc hát cùng những âm thanh của nhạc cụ cổ truyền người Lạch. Họ ăn uống, ca hát, nhảy múa suốt đêm. Ban ngày xem các cô gái Lạch ngồi dệt thổ cẩm, du khách có thể mua những đặc sản của họ như chiếc gùi, những vóc thổ cẩm nhiều màu sắc.

Một số đoàn gồm những thanh niên trẻ, khỏe, thích những trò chơi mới lạ, leo núi, chinh phục đỉnh Lang Biang, dù lượn... Ðối với họ, chuyến đi còn là một thử thách của những người tham gia để vượt qua chính mình. Có ba cách lên tới đỉnh-nơi đặt logo Du lịch Ðà Lạt: đi xe Uoát, đi bộ hoặc leo bằng dây. Ngoài ra còn có một đường xuyên rừng khoảng 2km cũng lên tới đỉnh. Vài năm gần đây, trên đỉnh Lang Biang có loại hình dù lượn, xuống núi bằng dây. Cảm giác thú vị nhất của du khách là được ngự trị trên đỉnh đồi Rađa cao hơn 2.000m, thả hồn theo những đám mây đang bồng bềnh trôi. Ðứng ở đây có thể ngắm trọn vẹn thành phố Ðà Lạt mộng mơ, hiện ra như một bức tranh thủy mặc, phía tây là hồ Dankia-Suối Vàng trông như một tấm lụa đào khổng lồ nổi bật giữa màu xanh bạt ngàn của núi đồi.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Tim hiểu lễ hội bắt chồng của người Tây Nguyên

Ở Tây Nguyên có khá nhiều lễ hội như: Lễ rước hồn lúa của người M’nông, lễ cúng bến nước của đồng bào Êđê, hội đua voi... nhưng trong đó có một lễ hội khá thú vị tên là “Lễ Hội Bắt Chồng”


Khi cái lạnh sâu cùng những cơn gió hanh hao của mùa đông tràn về cũng là lúc khắp các thôn bản của đồng bào Chu Ru, Cil, Cơ Ho… ở Tây Nguyên rộn rã bước vào mùa cưới – mùa bắt chồng. Mùa bắt chồng phải diễn ra ban đêm, bắt đầu từ mùng một Tết âm lịch cho đến hết tháng ba.

Khi thích một chàng trai nào đó, cô gái về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Gia đình sẽ đến nhà trai hỏi dạm. Nếu cả hai dòng họ đồng ý, cô gái sẽ đến đeo nhẫn vào tay người con trai vào một đêm đẹp trời. Trường hợp người con trai không thích có thể trả lại nhưng đến 7 ngày sau, cô gái lại chọn một đêm đẹp trời đến đeo nhẫn cho chàng trai và cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi chàng trai chấp nhận.

Trước khi cưới một ngày, buôn làng tổ chức một đêm hội gọi là "Đêm hội bắt chồng". Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào mình, có một số câu luật độc đáo như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Ngày cưới chàng trai và cô gái rút nhẫn ra hôn nhẫn và đeo lại cho nhau. Sau lễ cưới 7 ngày, cô gái tháo nhẫn đưa mẹ chồng cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ cô gái cất giữ.

Một phong tục độc đáo của đồng bào Tây Nguyên, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nếu ai đề nghị ly hôn trước thì người đó phải "đền" một con trâu đực. Đồng thời sau lễ bắt chồng ai chung chạ, ngoại tình với người khác thì kẻ phản bội phải đền ba con trâu đực và số trâu sẽ tăng lên nếu ngoại tình nhiều lần. Đây cũng được xem như một luật tục riêng làm tăng tính gắn kết trong cuộc sống vợ chồng. Bởi lễ bắt chồng còn được các đồng bào xem là việc đại sự và Srí là tín vật chung cho hai dòng họ.

Xem thêm: Tục ăn "trầu" ở Tây Nguyên


Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Đến với Thác Voi - Tây Nguyên

Tây Nguyên không chỉ có cà phê, có "cái nắng", " cái gió" mà còn ôm trong mình những con thác to lớn, nguyên sơ, hoang dại. Với phong cảnh được thiên nhiên ưu đãi và còn đầy vẻ hoang sơ, thác voi còn được coi là một trong những thác đẹp của Tây Nguyên

Thác Liêng Rơwoa hay còn gọi là Thác Voi với chiều cao hơn 30m, rộng chừng 15m, nằm ở thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, cách thành phố Đà Lạt 25km về hướng tây nam.


Từ trên đỉnh thác ở độ cao 35m nhìn xuống ai cũng muốn đến được chân thác - nơi có những khối đá lô nhô, những thảm thực vật xanh mượt và những hang động kỳ thú. Muốn xuống được nơi đó phải trải qua một đoạn đường “chinh phục”. Bước xuống hơn 150 bậc đá, mỗi bậc là một góc độ, như một cảnh quay chậm của dải lụa trắng rộng 40m cùng ta cuốn xuống thấp, vô tận, không dứt. Hơi nước cuộn lên màn khói, hư ảo mà lại như cầm nắm và cảm nhận được rất rõ. Đến chân thác, bám theo dây leo rừng, bước lên những tảng đá lô nhô ra ngoài mặt nước. Tạo hóa thật khéo sắp đặt, 7 – 8 “con voi” (tảng đá) khoác trên mình tấm “áo choàng” xanh mướt của những thảm cỏ trông như đàn voi đang chen nhau tắm suối. Ngồi trên “lưng voi”, dưới chân là dòng nước cuộn chảy qua các ngóc ngách đá, nhìn lên dòng thác - hiện lên trong mắt là một vẻ đẹp tuyệt vời.
Chiêm ngưỡng thác Voi từ nhiều góc độ mới thấy hết vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ của nó, nhưng nhìn từ chân thác nhìn lên là vẻ đẹp hoàn hảo nhất. Nước tuôn xối xả qua sườn núi đá hoa cương ánh lên bảy sắc phản chiếu dưới ánh sáng xiên của mặt trời buổi sớm. Khói tỏa, sương bay như lạc vào miền thần tiên.
Những khối đá lô nhô nơi chân thác cũng tạo ra những hang động là nơi trú ngụ của những đàn dơi lớn, có hang sâu đến 50m với vách đá sừng sững, hang Gió vi vút sáo trời… phía sau lưng là dòng thác khổng lồ trút nước. Hơi nước, bụi nước từ dòng thác bay mù mịt, bao phủ khiến đi dưới thảm thực vật, hay đi trong hang đá, những giọt nước đọng trên lá cây ngọn cỏ cứ lộp bộp trên đầu làm ta có cảm giác mưa rừng suốt quanh năm. Dù đã được đầu tư xây dựng nhưng hành trình chinh phục chân thác cũng lắm gian nan. Vừa đi, lại vừa leo trèo, có khi phải leo lên một khối đá lớn, rồi đổ xuống phía bên kia tảng đá, tay bám vào bất cứ thứ gì có thể để làm điểm tựa. Nhưng chính vẻ đẹp nguyên sinh đó, trong không gian tĩnh mịch, giữa bốn bề là rừng cây, núi đá, tiếng thác đổ đã tạo nên điều kỳ thú, hấp dẫn.
Bên cạnh vẻ đẹp quyến rũ, thơ mộng, thác Voi từng là cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ. Mới được tôn tạo thành điểm tham quan du lịch trong những năm gần đây, song thác Voi nhanh chóng được công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia.
Trên đường khám phá Thác Voi, du khách ghé thăm các cơ sở ươm tơ nuôi tằm của người dân Nam Ban. Vào mùa Cà phê trổ bông, ta thấy trắng xoá cả một vạt đồi và hương thơm ngào ngạt của hoa cà phê.

>> Tour cà phê - Mùa hoa cà phê

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Thưởng thức rượu cần Tây Nguyên

Bạn đã bao giờ uống rượu cần Tây Nguyên chưa? Và đặc biệt, khi nào bạn ngất ngây trong men rượu cần thì khi đó bạn mới hiểu rượu cần Tây Nguyên đặc biệt thế nào.

Rượu cần hiện nay được xem là thức uống “đặc sản” của đồng bào Tây Nguyên. Trong bất cứ lễ, tết nào, đồng bào Tây Nguyên cũng đều có nghi thức uống rượu cần. Rượu cần là một thức uống không thể thiếu được trong các lễ hội cũng như dùng để tiếp đãi khách quý. Bởi theo quan niệm tâm linh cho rằng, rượu của họ là do Giàng (trời) bày cho cách làm, mỗi khi cúng Giàng hoặc tế lễ thần linh phải có rượu cần thì lời cầu nguyện mới linh nghiệm.

Ðể có được ché  rượu cần thơm ngon phải thực hiện qua nhiều công đoạn như chuẩn bị men, vò sành, vật liệu làm rượu... Nhiều dân tộc Tây Nguyên làm rượu bằng cách dùng nếp cẩm hoặc nếp trắng nấu thành xôi, phơi bằng nong cho nguội rồi trộn men vào cho ủ kín. Men rượu làm bằng củ riềng, rễ cam thảo và củ cây chít, phơi khô – sau đó đem giã nhuyễn thành bột đem trộn với gạo. Cho một ít nước vào rồi nắm lại thành một nắm lớn bằng cái bát (chén), ủ cho đến khi lên mốc trắng là được. Khi đã lên men, trộn thêm trấu để sau này dùng cần hút dễ hơn. Tất cả cho vào ché đựng rượu theo nguyên tắc xếp lớp, cứ một lớp nguyên liệu lại một lớp trấu. Sau cùng người ta bịt miệng ché bằng lá chuối khô. Rượu ủ ba ngày là có thể dùng được, tuy nhiên ủ càng lâu rượu càng có độ nồng cao và càng thêm đậm đà. Việc trộn trấu đòi hỏi cũng cần có tay nghề vì trấu có tác dụng khi cắm cần vào ché rượu, cần rượu không bị tắc. Rượu ngon là loại rượu có màu vàng đục như mật, khi rót ra dòng chảy không bị đứt đoạn, sờ vào thấy hơi dính, có mùi thơm ngây ngất, cay nồng xen lẫn với vị ngọt rất đặc trưng.

 
Ở Tây Nguyên đi vào các buôn làng hầu như nhà nào cũng có vài ché rượu cần để đãi khách đến. Khi uống rượu, chủ nhà đem ché ra mở nắp bỏ lớp lá đậy trên miệng, đổ đầy nước, để chừng nữa giờ đồng hồ cho rượu ngấm. Sau đó chủ nhà nếm trước một ngụm nhỏ xem thử rượu đạt chất lượng chưa rồi nâng cần trao cho khách. Vì rượu cần uống không rót ra ly nên khi uống người Tây Nguyên cũng có cách để biết ai có uống rượu khi cầm cần hút bằng cách ai uống xong một hơi thì rót vào đó một ca nước, người tiếp theo uống mà rót vào ca nước như vậy bị dư ra nghĩa là người trước đó uống chưa đủ lượng rượu của mình.

Ngoài ra để tính công bằng về lượng rượu cho mỗi người, còn có thể dùng một cành cây gác ngang miệng ché, có nhánh cắm xuống mặt nước một đoạn chừng một phân. Khi người uống hút rượu, mực nước thấp xuống, đến đoạn đầu nhánh cây là đủ phần mình. Người Tây nguyên mời rượu tinh tế, dù cho bạn có tửu lượng kém đến đâu cũng không thể từ chối uống một hơi, nhất là khi gia chủ đã cầm sẵn ca nước trong tay, mắt nhìn khách chân thành và tha thiết.

Rượu cần rất dễ uống, có vị ngọt ngọt nhưng cái say của nó không giống cái say của bất cứ loại rượu bia nào. Chất men thơm nồng làm cho người uống lâng lâng ngay ngất, và kỳ lạ là dẫu say nhưng vẫn cứ uống được mãi đến vô tư. Uống rượu cần không chỉ là thưởng thức rượu mà còn thể hiện văn hóa giao tiếp của mỗi người với nhau khi ngồi xung quanh ché rượu.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Du lịch Tây Nguyên thưởng thức cà đắng

Tây Nguyên không chỉ nổi tiếng với rượu cần, những đồn điền cà phê, điều, tiêu… mà còn được biết đến với một món ăn đặc trưng rất hấp dẫn là cà đắng. Khi đi du lịch Tây Nguyên, bạn phải một lần nếm món cà đắng của đồng bào dân tộc nơi đây, bạn mới “thấm” cái giản dị, mộc mạc mà thành “miếng ngon nhớ lâu” trong tâm thức của nhiều người.


Cà đắng là một loại cà dại vốn mọc nhiều trong rừng, trên nương rẫy của người đồng bào các dân tộc Tây nguyên. Quả cà đắng to hơn cà pháo và thường hơi dài ra, quả có màu xanh đặc trưng , cuống quả lại có gai nhọn nên cũng dễ nhận biết.

Quả cà đắng dùng để làm các món ăn tuy dân dã nhưng lại được người tây nguyên rất hâm mộ, chính vì vậy cà đắng hiện được trồng đại trà trong vườn nhà, vườn rẫy để thu hái quả quanh năm và bán đầy cả chợ lớn Buôn Ma Thuột

Loại cà này có thể ăn sống nên trở thành món ăn khá hấp dẫn với những ai thích vị đắng. Bạn hãy thử cắn một miếng để nghe vị đắng tứa vào chân răng và cảm nhận cái nghe vị giòn ngọt ùa đến ngay sau đó. Cà đắng có mặt trong nhiều món ăn trong bữa cơm người dân tộc như cà đắng nấu với cá khô, cá hấp hoặc tôm tép khô, cà đắng nấu ốc v..v... Nếu mạnh miệng qua được đũa đầu tiên của những món cà đắng, bạn sẽ “nghe” được vị ngọt đằm thắm hòa với vị ngọt, vị mặn của cá khô, của tôm tép và vị cay xé lưỡi tạo nên một khẩu vị rất lạ, rất riêng của núi rừng.

Riêng với người Ban mê thì rất thích đãi khách bằng món này nên thỉnh thoảng còn cho cà đắng kết duyên cùng cá hộp, thịt hộp, thịt ba chỉ, da heo hay lòng gà, lòng vịt theo cách nấu của người kinh cho dễ ăn và hợp với khẩu vị của những người mới ăn.

Hiện nay, cà đắng cũng rất phổ biến trong thực đơn các nhà hàng ở vùng Tây nguyên và hấp dẫn bao thực khách. Nếu có dịp đến với vùng đất này bạn hãy thử một lần món cà đắng, chắc chắn sự hấp dẫn của nó sẽ làm bạn nhớ mãi. --> chương trình các tour du lịch Tây Nguyên

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Cẩm nang du lịch Tây Nguyên cho bạn

Tháng 12 dương lịch là thời điểm lý tưởng để du khách đến Tây Nguyên bởi lúc này nơi đây diễn ra nhiều lễ hội và là mùa hoa dã quỳ nở vàng rực trên đất đỏ bazan. Trong cái se lạnh chớm thu sang đông, hoa dã quỳ càng tôn vẻ đẹp của một vùng đất vẫn còn kỳ bí nên dã quỳ còn được ví là hoa báo đông (Xem hình ảnh về hoa dã quỳ).


Đi Tây Nguyên mà không uống rượu cần thì coi như chưa tới Tây Nguyên. Nhưng mỗi dân tộc ở Tây Nguyên lại có văn hóa uống rượu cần khác nhau mà du khách cần tìm hiểu. Người dân Xêđăng có lệ: Trước khi uống rượu chủ nhà đặt gan gà thái miếng lên tai ghè rồi khấn thần linh. Già làng luôn là người uống đầu tiên. Thường khách được mời cầm cần đầu tiên, nhưng khách nên mời già làng và chủ nhà uống trước. Với người H’Rê, khi mọi người đã ngồi quanh ghè rượu, chủ nhà đứng dậy, rút một cọng tranh trên mái nhà cắm vào ghè rượu (tượng trưng cho việc mời trời và tổ tiên uống trước), sau đó đổ nước. Nếu chủ nhà đổ nước đầy miệng ghè, đó là cách tỏ ý kính trọng khách. Khách phải uống hết phần rượu mời mới là quý nhau. Thông thường, mỗi cuộc rượu có một người điều hành được cử ra. Cần phải được liên tục chuyển từ người này sang người khác. Ai không uống phải dùng ngón tay cái bịt đầu cần.

Du khách còn nên biết được nhiều phong tục khác. Nhà Dài Êđê có hai cầu thang, một là cầu thang Cái dành riêng cho phụ nữ và khách quý lên xuống. Đỉnh của cầu thang được đẽo giống như mũi con tàu, phíadưới có một vầng trăng khuyết và bộ ngực phụ nữ tượng trưng cho chế độ mẫu hệ. Cầu thang Đực thường nhỏ hơn rất nhiều và được đặt cách xa phía bên trái dành cho những người đàn ông trong gia đình lên xuống. Thường bậc của 2 loại cầu thang trên có số lẻ: 3,5,7 (người Êđê thích nhất con số 7). Nếu du khách muốn biết gia đình nào có bao nhiêu con gái, hãy nhìn vào cửa sổ: nhà nào có bao nhiêu cửa sổ thì có bấy nhiêu con gái. Cửa sổ đóng kín nghĩa là cô gái ấy chưa “bắt chồng”, còn cửa sổ nào mở rộng có nghĩa là cô gái ấy đã “bắt chồng”.
 
 

Tây Nguyên có nhiều đường dốc đồi núi. Khi đi du lịch, du khách nên mang theo giày thấp, mềm và có nhiều gai để bám chắc khi leo. Khi leo núi, bạn nên đi 2 đôi vớ, 1 vớ mỏng bên trong (không nên đi vớ nilông hay vớ giấy bên trong) mà nên đi vớ mềm thấm mồ hôi và 1 đôi vớ dài bên ngoài để trùm lên quần tránh muỗi. Sử dụng 2 đôi vớ sẽ giảm độ cọ của giày và chân, tránh làm phồng rộp da chân. Du khách cũng nên chọn loại quần áo dễ thấm mồ hôi và thoải mái khi di chuyển

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Đến thăm Đắk Nông - Tây Nguyên

Đắk Nông là một tỉnh ở Tây Nguyên được thành lập từ năm 2004. Phía Bắc tỉnh Đắk Nông giáp Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và Campuchia.


Đắk Nông nằm ở phía Trung Bộ, đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500 m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều đồng cỏ trải dài về phía Đông. Phía Tây địa hình thấp dần, nghiêng về phía Campuchia, phía Nam là miền đồng trũng có nhiều đầm hồ.

Một số thắng cảnh tại Đắk Nông

1. Thác Diệu Thanh

Thác Diệu Thanh nằm trên dòng suối Đắk Tít, là danh giới tự nhiên phân cách giữa hai xã Nhân Cơ và Quảng Tân, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.


Đặc điểm: Thác Diệu Thanh đẹp, hoang sơ và thơ mộng. Ngoài thác lớn nhất từ độ cao khoảng 30m đổ xuống vực sâu, Diệu Thanh còn có nhiều dòng thác nhỏ, cùng thác mẹ, nước đổ xuống suối quanh năm tung bọt trắng xoá. Dưới chân ngọn thác là cả một khoảng rộng mênh mông nước có nhiều mô đá nhỏ nhấp nhô, tạo thành hàng trăm dòng chảy ra nhiều hướng. Hai bên bờ suối là những bãi đất bằng phẳng có nhiều cây xanh toả bóng mát.

2. Nam Nung


Đắk Nông là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa và di tích cách mạng nên việc phát triển du lịch văn hóa sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng đang được tỉnh chú ý đầu tư phát triển. Quần thể di tích căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung đang được đánh giá là một điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch khi đến Đắk Nông.

Quần thể di tích Nam Nâm Nung (thuộc khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử Quốc gia tại Quyết định số 10/2005-QĐ-BVHTT. Điều đó càng làm tăng thêm ý nghĩa văn hoá, lịch sử cho vùng và tăng phần hấp dẫn cho khách du lịch muốn tìm hiểu về văn hóa và truyền thống cách mạng của Đắk Nông.

Nam Nâm Nung có diện tích hơn 30 km², kéo dài từ phía Tây Bắc địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong đến Lâm trường Đắk N'tao và Khu bảo tồn Thiên nhiên Nâm Nung. Hầu hết rừng ở đây vẫn còn là nguyên sinh. So với Bắc Nâm Nung thì động thực vật ở khu vực Nam Nâm Nung có phần phong phú hơn, phổ biến là các loại gỗ như Kiền Kiền, Sao, Bạch Tùng, Dẻ, Du Sam, Trâm, Chò Xót... Động vật như: nai, gà, lợn, khỉ, chồn, gấu, trâu...

Quần thể khu di tích bao gồm hai địa điểm Tỉnh ủy và Tỉnh đội Quảng Đức cũ. Khu căn cứ Tỉnh đội nằm ở phía Tây Nam Dình Dứa, dưới chân đồi Yok K’Lé Lay. Vành đai ngoài khu vực Tỉnh uỷ hiện tại vẫn còn những vết tích hầm, hào hình chữ Z, bếp Hoàng Cầm và những dấu tích địa dư mà các chiến sỹ trước đây phát rẫy trồng màu (lúa, ngô, khoai, sắn...). Vào bên trong vành đai là trung tâm của Tỉnh đội (1968-1971), nơi đây như một quần thể kết cấu của nhà và hầm nối tiếp nhau. Từ trên đồi (phía Nam) đi xuống (theo hướng Bắc), khách tham quan sẽ được thấy vết tích hầm của Tỉnh ủy, có độ dài 2,5m, rộng 0,9m, hầm làm theo kiểu chữ Z để tiện cho việc đi lại - một cửa vào và một cửa ra. Tiếp là căn nhà ở và làm việc từ 1968-1969 của đồng chí Bùi Đức Thành (Năm Nhân) Tỉnh đội trưởng, và sau đó là đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Tỉnh đội trưởng ở và làm việc từ 1969-1971. Từ căn cứ Tỉnh đội theo hướng Bắc khoảng 3,5km đường chim bay là tới căn cứ Tỉnh ủy thuộc khu vực suối Đắk Điên Clou, được bao bọc bởi hai phụ lưu (nhánh nhỏ) suối Đắk Điên Clou ở phía Bắc và Đông Nam. Khi đến nơi đây khách tham quan sẽ được thấy nền nhà Tỉnh ủy nằm tựa lưng vào hai tảng đá lớn phủ đầu rêu xanh bên lề con suối (phụ lưu phía Nam). Trước đây nhà là nơi ở và làm việc của đồng chí Trần Phòng (bảy Biên) - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đức, nền nhà có diện tích 12m², làm bằng gỗ, lợp lá mây hai mái, mặt hướng về phía Bắc.

Nằm về phía Tây Bắc khoảng 30m là căn hầm tự nhiên trong vách đá, phía trên hầm được phủ một tảng đá lớn, có sức chứa từ 8 đến 10 người, mặt hầm hướng về phía Bắc nằm cạnh kề phụ lưu suối Đắk Điên Clou (nhánh phía Bắc) về hướng Đông chừng 50m, khách tham quan sẽ tận mắt nhìn thấy một ngọn thác nhỏ sinh xắn và thơ mộng, có độ cao từ 3,5-4m. Hội trường, nơi tổ chức Đại hội Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đức lần thứ nhất (2-9-1969) nằm tựa lưng vào dòng chảy của thác. Hội trường có diện tích 84m², làm bằng gỗ, lợp lá mây, hai mái.

Trong khung cảnh núi rừng Nam Nâm Nung hùng vĩ hôm nay, ít ai ngờ nơi đây trong kháng chiến chống Mỹ lại là một căn cứ cách mạng nổi tiếng. Đến đây khách tham quan sẽ được tận mắt chứng kiến màu xanh ngút ngàn của núi rừng Tây Nguyên, được đắm mình trong những con suối, ngọn thác với dòng nước trong lành, mát mẻ, lúc này hình ảnh lịch sử như sống lại trước mắt du khách một thời hào hùng oanh liệt, di tích nằm lọt vào thảm rừng nguyên sinh, với những cây cổ thụ như ôm ấp và che chở các dấu tích của một thời lịch sử oai hùng. Nơi đây như một quần thể của sự kết hợp hài hòa giữ thiên nhiên và con người, du khách sẽ được hít thở không khí trong lành, tắm và vui đùa trên dòng thác, một khung cảnh hữu tình đầy chất thơ mà thiên nhiên ban tặng cho con người.

Với những lợi thế và ý nghĩa trên đây, Nam Nâm Nung xứng đáng là “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống cách mạng và là nơi tham quan, du lịch hấp dẫn của du khách gần xa khi đến với Đắk Nông.

3. Hồ Tây (Đăk Nông) - Êm đềm và lãng mãn

Tọa lạc ngay trung tâm của huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông, hồ Tây rộng lớn như một chiếc gương soi khổng lồ cho trung tâm thị trấn huyện. Hồ Tây có một vẻ đẹp kiều diễm của những thiếu nữ xinh đẹp đang bước vào tuổi xuân thì, không kiêu xa nhưng đằm thắm, mặn mà.



Nếu đặt chân đến đây lần đầu tiên, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên khi tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên đã ban tặng cho Đắk Nông nói chung và huyện Đắk Mil nói riêng.

Hồ Tây có diện tích rộng khoảng 40ha, đây là lòng hồ chứa nước lớn để cung cấp cho việc tưới tiêu của huyện Đắk Mil và cũng là nơi nhận chứa dung lượng nước từ các dốc cao đổ xuống với khối lượng lớn khi mùa mưa về. Hồ Tây mang trong mình sự êm đềm và lãng mạn, mặt nước bằng phẳng, trong xanh in bóng bầu trời cao rộng phía trên, chỉ đôi khi có những làn gió mạnh vô tình lướt qua mới làm cho mặt nước lăn tăn gợn sóng, trông rất đẹp và hiền hòa.

Xung quanh hồ Tây là những vườn cây xanh tươi tỏa bóng do người dân quen khu vực trồng và chăm sóc. Dạo quanh hồ Tây để ngắm cảnh đẹp, bạn sẽ được hòa mình giữa thiên nhiên bao la và hít thở không khí trong lành, dễ chịu.

4. Về thăm vẻ đẹp hoang sơ của thác Đăk G’Lun


Đến Đắk Nông để tham quan, nghỉ dưỡng sau những ngày bộn bề công việc mà bạn chưa đi thăm điểm du lịch thác Đắk G’Lun thì quả là đáng tiếc.


Nằm trên địa phận xã Đắk R’Til, huyện Tuy Đức, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa 60km, thác Đắk G’Lun tuyệt đẹp tung mình ở độ cao hơn 50m rồi được tẽ thành hai dòng nước treo lơ lững trên vách đá trông rất quyến rũ.

Đến với Đắk G’Lun là đến với cảnh non nước hữu tình, không khí mát mẻ, trong lành, cộng với tiếng chim muông ca hát bạn sẽ có được cảm giác thư giãn, êm đềm. Bên trên dòng thác là những khối đá lớn và bằng phẳng tựa những tấm thảm trải rộng để hai dòng chảy ngày đêm chuyển động không mệt mỏi. Phía dưới chân thác là những mô đá lớn nhỏ nhấp nhô với muôn vàng dáng vẻ, tựa những vũ khúc điệu đàng. Khi mặt trời lên, những bụi nước lóng lánh làm thành những chiếc cầu vồng lúc ẩn lúc hiện.

Thác Đắk G’Lun nằm trong cánh rừng đặc dụng với nhiều loại gỗ quý hiếm. Bao bọc xung quanh thác là các loại cây có tán rộng và những bụi le rừng mát mẻ. Quanh khu vực này hơi nước luôn toả ra trông giống như mưa phùn ở Đà Lạt. Nơi đây còn có những bãi đất rộng và bằng phẳng để du khách cắm trại nghỉ qua đêm, hay để thưởng ngoạn mặt trời lên…Từ nhiều năm nay, dù nằm ở nơi khuất vắng, nhưng với vẻ đẹp hoang sơ và thơ mộng của mình, thác Đắk G’Lun đã cuốn hút biết bao du khách trong vùng đến tham quan.

Nơi đây nếu được đầu tư và xây dựng chắc chắn sẽ không chỉ thu hút du khách trong tỉnh mà sẽ còn thu hút nhiều du khách ở các tỉnh lân cận như Đắk Lắk, Bình Phước, Bình Dương, Tp.Hồ Chí Minh.

5. Thác Ba Tầng


Thuộc huyện Đắk Nông, tỉnh Đắk Nông, cách thị trấn Gia Nghĩa khoảng 8km theo quốc lộ 14 ngược hướng về Buôn Ma Thuột.


Đặc điểm:Quanh thác Ba Tầng có nhiều cây cổ thụ và có bãi đất rộng bằng phẳng, thoáng mát để cho du khách cắm trại, thư giãn khi đến thăm thắng cảnh này.

Người ta gọi là thác Ba Tầng bởi vì khi nước suối chảy đến đây phải qua ba tầng thác mới đến lòng suối nằm ở phía dưới. Ba tầng thác này nằm nối tiếp nhau trong một chiều dài khoảng 40m. Tầng thứ nhất không cao lắm, nước từ các tảng đá rơi xuống lòng thác từ độ cao hơn 1,5m. Cách tầng thác thứ nhất chừng 20m là tầng thác thứ hai. Ở tầng thác này, dòng nước suối xanh trong sau khi len lỏi giữa những tảng đá nằm kề nhau và từ độ cao khoảng 2m đã tràn xuống phía dưới tung bọt trắng xóa. Thác thứ ba là thác lớn nhất và là thác chính của cụm thác Ba Tầng. Ngọn thác chính này cao hơn 20m, ngày đêm ầm ào chảy giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng và đổ tràn về hai bên bờ suối. Ở đây dòng suối khá rộng, ven bờ có nhiều lùm cây cao tỏa bóng mát mà du khách có thể ngồi nghỉ ngơi ngắm cảnh dòng nước tuôn trào từ trên cao xuống trong âm vang của tiếng thác reo. Đứng dưới nhìn lên ta thấy hơi nước tỏa bay ra xung quanh như một lớp sương mù bao phủ ngọn thác mải miết reo vang muôn thuở giữa ngàn xanh.

6. Thác Trinh Nữ

Nằm cách trung tâm huyện Cư Jut  khoảng 1km về phía tây và cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 25km về phía tây nam.


Thác Trinh Nữ là một trong những địa điểm thu hút khách thập phương đến đây du ngoạn, ngắm cảnh nhiều nhất.

Trước khi hòa vào dòng Sêrêpôk cuồn cuộn chảy, nhánh sông Krông Nô còn phải vượt qua những dãy đá lởm chởm, xếp chồng lên nhau muôn hình, muôn vẻ. Thế nhưng, lực cản cuối cùng đó đã tạo nên một thắng cảnh thiên nhiên hấp dẫn và có một cái tên vô cùng thơ mộng - Thác Trinh Nữ.

Tương truyền, sở dĩ ngọn thác có cái tên đầy quyến rũ này là do bắt đầu từ một câu chuyện khá buồn: Một cô gái đang tuổi xuân thì, do trắc trở chuyện tình duyên đã tìm đến ngọn thác và quyết định gửi thân vào dòng nước bạc trắng xóa để quên đi nổi đau khổ. Và như để tỏ lòng trắc ẩn, cảm thương cô gái xấu số kia, cái tên Trinh Nữ đã được người đời đặt cho ngọn thác.

Theo những con đường uốn lượn, bậc cấp bằng đá, du khách có thể đi dọc theo dòng chảy của thác để ngắm cảnh nước non đang hòa quyện vào nhau. Khi đôi chân đã mỏi, hay muốn vui chơi ca hát, du khách có thể nghỉ ngơi, quây quần thoải mái dưới những chiếc chòi mái lá xinh xắn trong một khung cảnh chỉ có riêng mình với thiên nhiên. Du khách muốn lưu lại để ngắm cảnh của núi rừng, thác nước về đêm ư? Cũng không khó khăn gì, đã có những căn hộ nho nhỏ mang dáng dấp ngôi nhà của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên dựng bên cạnh thác sẽ giúp du khách thỏa mãn ý tưởng đầy thi vị đó. Vâng, từ thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên cho đến lòng mến khách của con người, tất cả luôn sẵn sàng chào đón để du khách có những giây phút thư giãn thoải mái nhất.

7. Thác Dray Sáp


Thác Dray Sáp là thác hạ nguồn trong hệ thống 3 thác Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông, cách thành phố Buôn Ma Thuột 30km. (Xem tìm hiểu về Thác Dray Nur)

Đặc điểm: Thác cao 20m nhưng trải rộng khoảng 100m. Theo tiếng Ê Đê, Dray Sáp nghĩa là thác khói.
Bởi lẽ dòng nước từ trên cao đổ xuống thung lũng ào ào tạo thành khối lớn, bụi nước bay là là như màu khói. Quanh năm suốt tháng cả một vùng vang vọng tiếng thác và ngập trong khói nước.

Thác Dray Sáp là một thắng cảnh đẹp nhờ sự kết hợp giữa hai dòng sông Krông Nô và Krông A Na mà người Ê Đê và người M'Nông gọi là sông Chồng, sông Vợ gặp nhau mà thành. Tình yêu của họ mạnh mẽ như dòng thác, đẹp đẽ như sắc cầu vồng ẩn hiện trong làn sương khói nước. Dray Sáp như một bức thành nước khổng lồ, hùng tráng giữa một vùng hoa nước long lanh.


8. Hồ Ea Snô 

Hồ Ea Snô là một hồ nước tự nhiên có phong cảnh sơn thuỷ hữu tình còn hoang sơ toạ lạc trên vùng đất thuộc xã Đắk Rồ, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông. Hồ nằm cách thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông 125 km về hướng đi thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Thắng cảnh được thiên nhiên hào phóng ban tặng này luôn gắn liền với những truyền thuyết dân gian, với tâm tư tình cảm, phong tục tập quán, và cả những tập tục của cư dân cư nơi đây.





Hồ Ea Snô là một thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú có diện tích mặt hồ hơn 80 hecta. Đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, mặt hồ tựa chiếc gương bạc khổng lồ lấp lánh, được viền quanh bởi dải hoa văn là những ngọn đồi nhấp nhô, lại được điểm tô bởi màu xanh của núi rừng hùng vĩ. Xung quanh bờ hồ là những cánh rừng đặc dụng với nhiều loại cây, loài thú hiếm: rắn, ba ba, khỉ, nai, heo rừng...

Khi đến đây, bạn sẽ được du thuyền trên mặt hồ để thưởng lãm cảnh đẹp hoang sơ của núi rừng, thả hồn theo làn gió mát rượi để xua tan những lo toan, vướng bận. Ngoài ra, bạn cũng có thể du thuyền từ cửa hồ này ra sông Krông Nô rồi xuôi về bên trái để xuống thác Dray Sap, hay ngược dòng để lên buôn Choah thăm quê hương của tù trưởng Nơ Trang Gưh. Thú vị hơn, bạn có thể theo dòng Krông Nô qua dòng Krông Ana để về hồ Lăk hay đến vùng Ea Rbine. Ngoài việc du ngoạn cảnh hồ, du khách còn có thể tham quan các buôn làng: buôn Ol, buôn Choah, buôn Leng - nơi lưu giữ nhiều truyền thuyết về Ea Snô. 


9. Ngục Đắk Mil


Ngục Đắk Mil: Nằm dọc theo quốc lộ 14, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông khoảng 60 km, ngục Đăk Mil nằm trong địa phận huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông là di tích lịch sử oai hùng còn mang đậm dấu ấn của thời gian.

Năm 1941, đứng trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân ta, người Pháp cho xây dựng ngục Đăk Mil để làm nơi giam cầm, đầy ải những chiến sĩ cách mạng. Ngục gần như nằm tách biệt với thế giới bên ngoài, chỉ có ai day sàn gỗ làm nơi trú ngụ cho tù nhân, xung quanh được bao bọc bởi hàng rào gỗ và dây kẽm gai kiên cố. Trong điều kiện sinh hoạt hết sức khắc nghiệt, hàng ngày lại phải đối mặt với xiềng xích, gông cùm, chế độ lao dịch nặng nề... nhưng các chiến sĩ cách mạng vẫn kiên định lý tưởng đấu tranh.
Ngục Đăk Mil đã từng lưu dấu chân những chiến sĩ cách mạng ưu tú như: Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Nguyễn Tạo, Lê Nam Thắng... sau này làm nên lịch sử bằng những chiến công vang dội khắp Tây Nguyên.

Dấu tích của ngục Đăk Mil xưa nay chỉ còn lại cái nền, và tỉnh đang tôn tạo phục hồi lại như thuở ban đầu để ghi nhớ cho các thế hệ sau. Mời du khách hãy một lần đến ngục Đăk Mil để cảm nhận khí thế đấu tranh hào hùng, bất khuất của thế hệ cha anh ngày trước.

10. Làng văn hóa đồng bào dân tộc Mnong

Làng Văn Hoá Đồng Bào Dân Tộc Mnông: Từ thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông dọc theo quốc lộ 14 hướng đi thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk khoảng 28 km, rẽ trái khoảng 12 km bạn sẽ đến làng văn hóa đồng bào dân tộc Mnông, một trong những làng còn lưu giữ nhiều nét văn hóa độc đáo, đặc biệt là các tác phẩm sử thi, trường ca...


Làng văn hóa đồng bào Mnông có khoảng 1.500 hộ dân, trong đó bon Bu Prâng là bon tiêu biểu còn lưu giữ được hơn 200 pho sử thi Mnông - Ot Nrong có tính hệ thống cao và có giá trị nhân văn lớn (bộ sử thi phổ hệ). Đặc biệt, trong bon Bu Prâng có gia đình nghệ nhân Điểu Kâu đã nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch và lưu giữ hàng trăm bộ sử thi Ot Nrong của vùng này. Cách thể hiện các bài Ot Nrong là hát, hát trong lúc lên rẫy, hát bên bếp lửa hồng, trong các ngày lễ hội mọi người cùng quây quần bên ché rượu cần cùng với tiếng chiêng rộn rã... Có thể nói rằng, thông qua ngôn ngữ truyền miệng, hát Ot Nrong thể hiện sự đoàn kết trong gia đình và xã hội, gắn liền truyền thống giáo dục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đồng thời nó còn là món ăn tinh thần không thể thiếu được của đồng bào Mnông sau những ngày lao động vất vả...

Đến thăm bon Bu Prâng, du khách không thể không ghé thăm khu nhà mồ của đồng bào Mnông. Đây là một trong những nét kiến trúc truyền thống, văn hoá tín ngưỡng của đồng bào trong quá trình hình thành và phát triển. Nhà mồ là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa thể hiện qua các mô típ, dáng dấp riêng của từng dân tộc. Kiến trúc nhà mồ mang tính đặc trưng ở nghệ thuật trang trí, hình tượng, văn hoa chạm trổ khá công phu trên chất liệu gỗ, đến kiến trúc nhà mang hình khối có trang trí các búp sen bằng chất liệu kết dính theo văn hóa Tây Nguyên. Ngoài ra, các lễ hội trong buôn thường được tổ chức vào tháng 3 hàng năm với các hoạt động: lễ mừng được mùa, lễ cúng sức khoẻ cho người, lễ cúng sức khoẻ cho voi, lễ hội ăn trâu, lễ cơm mới...

11. Khu di tích lịch sử anh hùng ntrang lơng

Khu di tích lịch sử anh hùng dân tộc Mnông Ntrang Lơng nằm trên địa bàn huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông vừa được bộ văn hóa - thể thao và du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Hiện nay, tỉnh Đắk Nông đang xây dựng dự án phục dựng di tích này gồm các hạng mục như: nhà bảo tàng trưng bày những hiện vật, hình ảnh của nghĩa quân và cuộc kháng chiến; di tích đồn Bu Mêra, bia “tưởng niệm” Henry Maitre do thực dân Pháp xây dựng năm 1935 tại ngã ba biên giới: Nam Kỳ, Cao Miên và cao nguyên Trung phần; làng Bu Nơr - quê hương của nghĩa quân, cũng là nơi Henry Maitre bị nghĩa quân tiêu diệt vào năm 1914.

12. Chùa Pháp Hoa


Chùa Pháp Hoa nằm ngay ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Chùa được xây dựng vào năm 1957 với hai phần: chính điện và tháp năm tầng, cao khoảng 2 mét, kiến trúc ngôi chùa được mô phỏng theo kiểu kiến trúc nhà sàn Tây Nguyên, đồng thời xen lẫn với kiến trúc nhà vườn, tạo nên khung cảnh thanh tịnh.

Được xây dựng trên một ngọn đồi, cổng chính của chùa quay về hướng Đông Nam nhìn ra đường Hùng Vương, phía trước mặt là thung lũng. Khi đúng trên khuôn viên chùa nhìn xuống, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một phong cảnh tuyệt đẹp với những dãy núi đồi nhấp nhô nối tiếp nhau, cây cối xanh tươi chập chùng.

Vào bên trong, bạn có thể chiêm ngưỡng pho tượng Quan Âm Bồ Tát toạ lạc trong một khoảng không rộng rãi, được che phủ bởi hai cây phượng lâu năm. Chính điện chính của chùa có diện tích 160 m2, bên cạnh là ngôi tháp hình tròn có năm tầng.

Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn được trang trí nhiều chậu cảnh và nhiều loại hoa khác nhau, được sắp xếp hài hòa tạo cảm giác thanh tịnh và yên tĩnh.

>> Một số thắng cảnh tại Đắk Lắk - Tây Nguyên
>> Thắng cảnh du lịch Gia Lai - Tây Nguyên
>> Du lịch Tây Nguyên đến với Kon Tum


Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Du lịch Tây Nguyên đến với Kon Tum

Mấy bài trước mình đã đề cập đến 1 số thắng cảnh tại Đắk Lằk, Gia Lai. Hôm nay mình cùng các bạn tìm hiểu 1 số thắng cảnh tại Kon Tum


Kon Tum nằm ở phía bắc vùng Tây Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 150 km giáp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 127 km với Vương quốc Campuchia. Kon Tum có một số thắng cảnh mà bất kỳ du khách nào khi đến cũng không thể không ghé thăm

1. Di tích lịch sử cách mạng điểm Cao 601 cách TP.  Kon Tum 17 km về phía Bắc theo Quốc lộ 14, có một địa danh mà trong chúng ta hẳn nhiều người biết đến, đó là Dốc Đầu Lâu. Dốc Đầu Lâu là tên gọi dân gian mới có từ sau ngày xảy ra chiến sự tháng 4 năm 1972 giữa quân cách mạng và quân địch. Người Bah Nar Ở vùng này gọi địa danh đó là Kon Loong Phă, có nghĩa là dốc có nhiều cây Trắc và Điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi K’Rang Loong Phă.

2. Nhà thờ gỗ Kontum
Nằm ở nội vi thị xã, nhà thờ gỗ Kontum xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổ chức thi công, nay đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho nhiều du khách đến vùng đất Kontum.

Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đep, điệu nghệ như vậy mà được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa của người thợ. Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượng được tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các dân tộc. Du khách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm chính người dân tộc bản địa và uống rượu dâu, rượu nho do các nữ tu sỹ chế biến.

3. Vườn quốc gia Chư Mom Ray
Vườn quốc gia Chư Mom Ray có diện tích 56.621ha, thuộc huyện Sa Thầy và huyện Ngọc Hồi, nằm về phía Tây tỉnh Kontum. Đây là khu vườn quốc gia nằm ở vị trí ngã ba Đông Dương, tiếp giáp với hai khu bảo tồn thiên nhiên của Lào và Campuchia, Chư Mom Ray có triển vọng trở thành khu bảo tồn thiên nhiên liên quốc gia của Đông Nam Á, để bảo vệ tính đa dạng về sinh thái cũng như khu hệ động vật giàu có ở vùng này. Đặc biệt là bảo vệ các loài thú lớn đang có nguy cơ bị diệt vong như bò xám, hổ, voi…

Thực vật, khu vườn quốc gia Chư Mom Ray rất nhiều loại gỗ: ngành ngạch, lim xẹt, xoan nhũ, săng lẻ, các loại cây họ gạo, gõ, tháu táu cây bụi. Theo điều tra, bước đầu có 508 loài cây, thuộc 324 chi, 115 họ, là một trong những nơi có hệ thực vật cổ nhất nước ta. Về động vật, có nhiều loại thú móng vuốt như voi, bò tót và nhiều loại chim muông, gồm 352 loài động vật có xương sống, ở cạn.

4. Di chỉ khảo cổ học Lung Leng
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng (DCKCH Lung Leng) nằm ở thôn Lung Leng, xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật vô cùng phong phú. Bước đầu, một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử đã tái hiện.

Di chỉ khảo cổ hạc Lung Leng là một trong những di sản văn hóa lớn của cả nước. Qua di chỉ văn hóa này, chứng tỏ người tiền sử đã có mặt, sinh sống ở đây từ trước một vạn năm.

5. Ngục Kon Tum
Ngục Kon Tum nằm trong hệ thống nhà ngục của Thực dân Pháp. Nhà ngục được xây dựng khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Ban đầu đây là nơi bọn thực dân cai trị giam giữ những tù thường phạm. Nhưng về sau, khi tù chính trị cộng sản bị đày lên giam cầm tại đây, tính chất nhà ngục đã thay đổi, trở thành nơi giam giữ, đày ải tù chính trị với những âm mưu và hành động thâm độc, tàn ác của chính quyền cai trị thực dân Pháp.

Ngục Kon Tum, nơi địch đày ải giam cầm hàng trăm chiến sĩ cộng sản trung kiên, trong đó có nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, những đảng viên cốt cán của phong trào cách mạng lúc bấy giờ như các đồng chí: Lê Văn Hiến, Hồ Tùng Mậu, Bùi San, Trương Quang Trọng, Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Huy Lung, Lê Viết Lượng... Những tấm gương kiên cường chiến đấu dũng cảm hy sinh của cách mạng đã có tác động rất to lớn đối với phong trào cách mạng ở Kon Tum những năm 1930-1934 và cả sau này.


6. Khu vực lòng hồ Ya Ly
Ya Ly đã thực sự là một cái tên rất quen thuộc đối với du khách trên mọi miền đất nước, khi nói đến Ya Ly người ta thường nghĩ đến cảnh đẹp, núi non hùng vĩ và là nơi tiềm ẩn những huyền thoại.Thuỷ điện Ya Ly đã hình thành một khu vực lòng hồ rộng lớn. Du khách có thể xuất phát từ làng du lịch ĐăkBlà ( thị xã Kon Tum) xuôi về làng văn hoá dân tộc Jarai ( phía trên đập thuỷ điện) nơi đây còn nguyên nét văn hoá sơ khai của dân tộc Tây Nguyên. Với cảnh quan thiên nhiên, con ngườia, khu vực lòng hồ Ya Ly thực sự là nơi thăm quan, du lịch lý tưởng với những người yêu thích thiên nhiên, tìm về cuội nguồn.

7. Khu du lịch bãi đã thiên nhiên Km 33 ( huyện Kon Rẫy)
Nằm trên quốc lộ 24, thuộc huyện Kon Rẫy, cách thị xã Kon Tum 23 km về phía Đông, khu vực được tạo nên bởi những bãi đá nối liền nhau, là nơi có phong cảnh trữ tình, êm ả đặc biệt vào mùa hè, khoảng trời mênh mông, ánh năng vàng vừa phải tạo cho du khách những cảm giác gần gũi với thiên nhiên. Hiện nay tuy chưa được đầu tư thoả đáng nhưng khu vực này là điểm hẹ của các cuộc gặp gỡ bạn bè và du khách đến Kon Tum.

8. Rừng thông Măng Đen (kon Plong)


Từ Kon Tum theo quốc lộ 24 về hướng Đông khoảng 55km, cách huyện lỵ Kon Plong chừng 10 km du khách đến một rừng thông bạt ngàn mênh mông trên một bình nguyên bao la ở độ cao 1.100 m so với mặt nước biển, có những cây thông đã được trồng từ lâu, sừng sững và cao vút. Rừng thông Măng Đen đang là điểm du lịch và nghỉ ngơi của nhân dân địa phương và du khách.

9. Suối nóng Đăk Tô - Thác Đăk Lung
Từ trung tâm huyện lỵ Đăk Tô, theo tỉnh lộ 672 đi về hướng Bắc 8 km tới địa phận xã Kon Đào, du khách đã tới suối nước nóng Đăk Tô, nước từ suối liên tục phun lên từ lòng đất được khoanh lại trong một lòng hồ nhỏ. Nước nóng đến 500c - 600c, rất giàu chất Ca, Mg, Na, Si và nhiều thành phần chất khoáng khác.Cách suối nước nóng khoảng 3 km về phía Đông là thác Đăk Lung, Thác thông lớn, nhưng khung cảnh thiên nhiên hài hoà, không gian tĩnh lặng, cảnh vật hoang sơ, nơi đây rất thích hợp cho những cuộc vui chơi dã ngoại.
Với di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, khu nghỉ mát Suối nước nóng Đăk Tô và thác Đăk Lung, hứa hện sẽ thu hut một lượng khách khá lớn từ các nơi đổ về nghiên cứu, tìm hiểu, thăm quan và nghỉ ngơi tại đây. Hiện nay tuy chưa được đầu tư thoả đáng đẻ trở thành khu, điểm du lịch những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh này đang thu hút nhân dân sinh sống trên địa bàn tỉnh đến thăm quan, nghỉ ngơi.

10. Rừng đặc dụng Đăk Uy
Rừng đặc dụng Đăk Uy cách thị xã Kon Tum 25 km về phía Bắc, theo quốc lộ 14 thuộc thị xã Đăk Mar, Hà Mòn - huyện Đăk Hà.

Rừng đặc dụng Đăk Uy có diện tích 690 ha, nằm ở một địa hình khá bằng phẳng, thuận lợi về mặt giao thông và các thuận lợi khác.

Rừng đặc dụng Đăk Uy có nhiều laọi gỗ quí sống hỗn giao, như Cẩm lai, giáng hương, gỗ trắc,... ở đây các cây dược liệu, các loại hoa cũng rất phong phú và đa dạng như Sa nhân, Sâm Nam,..., tại khu vực này có nhiều động vật quí hiếm sống như: Gấu chó, beo, nai, mang, lợn rừng, tê tê, chăn, rắn,... Rừng có nhiều loài chim như: Cò trắng, vạc, nhồng, sáo đen, gà rừng...tạo ra nét phong phú, sinh động cho một khu du lịch sinh thái.

Với những thuận lợi về phát triển du lịch, rừng đặc dụng Đăk Uy hiện nay là nơi thu hút đông đảo du khách đến thăm quan, tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ và đặc biệt các trường học trên địa bàn tỉnh thường xuyên tổ chức cho các em học sinh đến đây để thăm quan, tìm hiểu về các laọi gỗ quí, các loại động vật thực vật nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái của học sinh.

11. Di tích lịch sử ngục Đăk Glei
Ngục Đăk Glei nằm ở phía Bắc thị trấn Đăk Glei, đi theo quốc lộ 14. ngục được xây dựng năm 1932 là nơi thực dân pháp đã giam giữ các chiến sỹ cách mạng Việt Nam trong những năm 1932 - 1954. Di tích ngục Đăk Glei đã được xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia, nơi đây hàng năm vẫn là điểm hẹn của các cán bộ lão thành ôn lại nhưng kỷ niêm của thời đã qua. Du khách thăm quan khu du lịch này như thấy lại được tinh thần và ý chí cách mạng quật cường của những chiến sỹ cộng sản bị giam giữ, tù đày tại các nhà lao, nhà ngục của bon thực dân đế quốc.

12. Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh
Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh nằm trên một quả đồi có độ cao 600 m, cách thị trấn Đăk Tô 1 km về hướng Tây Nam. Di tích nằm trên quốc lộ 14 đoạn từ Đăk Tô đi Ngọc Hồi. Đây là chiến trường ác liệt nhất của khu vực Tây Nguyên, là căn cứ mạnh nhất của Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên.

Hiện nay di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia, du khách đến thăm quan sẽ thấy sừng sững giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô đài tưởng niệm chiến thắng thể hiện sự đoàn kết, chung sức chung lòng của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với đảng, là nơi tưởng niệm các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh tại nơi này, từ trung tâm thị trấn du khách sẽ nhìn thấy tấm bia lớn ghi lại chiến tích lẫy lừng của chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, sân bay Phượng Hoàng được Mỹ xây dựng trải dài trên 2 km theo đường đi huyện Ngọc Hồi, một số chiến sa của giặc vẫn được bảo quản, lưu giữ.

Với các giữ liệu lịch sử sinh động, hấp dẫn hiện đang được huyện Đăk Tô tôn tạo, bảo quản sẽ giúp rất nhiều cho các du khách muốn tìm hiểu về chiến trường Tây Nguyên, về truyền thống đấu tranh, truyền thống văn hoá của nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum và đặc biệt du khách đến thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu còn được thăm quan nét đặc trưng văn hoá cua dân tộc Tây Nuyên (nhà Rông văn hoá, các lễ hội, văn hoá, văn nghệ...) và nghỉ ngơi, thư giãn tại suối nước nóng Đăk Tô, Thác Đăk Lung thuộc địa phận xã Kon Đào.

13. Làng Konktu
Hằng ngày làng thường xuyên đón khách du lịch trong nước và quốc tế khi đến thăm tỉnh cực Bắc Tây Nguyên. Đến đây, du khách được chiêm ngưỡng những nét văn hóa đặc sắc còn nguyên sơ, với mái nhà rông truyền thống của người Bana cao vút, những nếp nhà sàn cổ kính. Đêm đến giữa sân nhà Rông của làng, củi được chất thành một đống to và được đốt lên, cái giá lạnh của cao nguyên sẽ bị xua tan hết, hơi ấm của sự mộc mạc, chân tình, gần gũi, thân thiện như hòa quyện nồng ấm giữa chủ và khách.

Nhà rông của làng Konktu (tìm hiểu về NHÀ RÔNG)
Du khách được xem chương trình biểu diễn cồng chiêng, với điệu múa xoang của các cô sơn nữ làng Konktu, cùng với rượu ghè thơm lừng ngây ngất hòa vào tiếng cồng chiêng bay bổng đến nức lòng. Đến đây khách có thể ngủ qua đêm tại nhà Rông của làng, cả con trai và con gái - đây là điều khác biệt của người Bana ở làng Kon Ktu so với rất nhiều dân tộc khác sinh sống trên vùng đất Tây Nguyên.

Đến Konktu, khách còn có thể đi thăm thác H'Lay và thác Mốp cách làng chừng 2000m, dòng thác tuôn trào trắng xóa đẹp như cô sơn nữ đang vươn mình chải tóc. Nếu thích, du khách sẽ được những người đàn ông Bana chèo thuyền độc mộc chở đi xuôi theo dòng Đắk Bla, dọc triền sông bạn có thể tha hồ ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, những cánh rừng nguyên sinh rủ bóng xuống lòng sông.

14. Hoàng hôn trên cầu Kon Tum
Đến Kontu, đi dọc làng du khách còn được tận mắt chiêm ngưỡng nhiều sơn nữ Bana xinh đẹp đang miệt mài ngồi dệt thổ cẩm, những chàng trai của làng thì đang đan gùi chuẩn bị cho việc nương rẫy vào năm sau.
Đến với Kontum, bạn sẽ được thỏa mãn đi thăm thú khắp nơi. Vùng đất Tây Nguyên luôn cuốn hút bởi những nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc, với phong cảnh hữu tình sẽ mang lại cho bạn những phút giây đáng nhớ.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Thắng cảnh du lịch Gia Lai - Tây Nguyên

Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam.Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiên cũng như nhân tạo, Gia Lai có tiềm năng du lịch rất phong phú. Đó là những khu rừng nguyên sinh với hệ thống động thực vật phong phú, nhiều ghềnh thác, suối, hồ như Biển Hồ là một thắng cảnh nổi tiếng. Biển Hồ được xem như là một đôi mắt của thành phố núi Pleiku.

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Cà phê mocha sự hoà quyện giữa cà phê và chocolate

Cà phê mocha là một loại đồ uống nóng khá ưa chuộng. Thành phần là hỗn hợp giữa cà phê espresso được pha bằng hơi nước và chocolate nóng, có thể pha thêm nhiều sữa là mochacino latte hoặc thêm các loại syrup tạo hương đặc trưng.


Không như cà phê Cappucino chỉ với một lớp bọt sữa trên bề mặt, cà phê Mocha còn hòa quyện cả vị thơm béo của kem tươi và chocolate sauce.

Với mùi hương nhẹ của cà phê, vị ngọt dịu của sữa tươi và chocolate, cà phê Mocha rất thích hợp là một món giải khát trong những ngày trời nóng bức. Hương vị đậm đà của nó làm cho tinh thần sảng khoái và đặc biệt thích hợp cả với những người không quen uống cà phê.

Cà phê được dùng trong món cà phê Mocha là cà phê hột được rang lên và pha bằng hơi nước nóng. Với cách pha này, cà phê càng dậy hương thơm nhưng vị không quá đậm.

Ly cà phê Mocha trông thật hấp dẫn với màu cà phê đặc sánh bên cạnh màu trắng của lớp kem tươi, cùng màu nâu óng của dòng chocolate sauce trên mặt. Đặc biệt hơn nữa, với đá được xay nhuyễn, hòa chung cùng cà phê, bạn sẽ cảm nhận được ngay vị mát dịu, thơm ngọt tự nhiên khi những giọt cà phê Mocha đầu tiên chạm vào đầu lưỡi. Với cà phê Mocha, bạn có thể thoải mái thưởng thức mà không phải lo lắng bị nóng hay mất ngủ.


How To Make A Cafe Mocha


Top UK barista Robert Henry shows you how to make the perfect caffé mocha using a domestic machine. Enjoy your new Caffé Mocha taste with videoJug's help.

Step 1: You will need

    * An espresso maker
    * A coffee cup
    * A wide bottomed jug
    * Water
    * Fresh, cold milk
    * Drinking chocolate
    * Freshly ground coffee

Step 2: Heat the water

      Different models may vary, but make sure you pour enough water into the tank of the machine so that the pump pipes are fully submerged. Turn on the power and the pump to pump water into the boiler. Turn on the boiler to heat the water. The handle that holds the coffee is called the group handle and this should be locked into the machine. The light on the machine will go out when the water is at the correct temperature. Turn off the boiler and press the dosage button to let water flow through the handle for about 10 seconds. This will clean it through and heat it to the same temperature as the water.

Step 3: Add the chocolate
      Put a teaspoon of chocolate powder in the bottom of a coffee cup.

Step 4: Add the coffee
      Your machine should come with a dosing spoon to measure out the coffee. For a single shot of espresso you will need one spoonful of coffee (7 grams), and for a double shot you will need 2 spoonfuls (14 grams). Put the correct amount in the filter basket and tap it to create a level surface. Use the tamper provided to compact the coffee. This will ensure the water doesn't flow through it too fast.

Step 5: Filter

      Lock the group handle into the machine and put the coffee cup underneath. Turn on the dosage button. The coffee should take 14-18 seconds to filter through for a single espresso and 20-25 seconds for a double, after which you should turn off the dosage button. If it is filtering through too fast, add a bit more coffee and compact it more firmly. If you are grinding your own coffee beans, grind them more finely.

Step 6: Steam the milk


      Milk can be steamed using the steam arm on your coffee machine. Turn the arm on full for 5 seconds before inserting it into the milk, as this will clean it through. If you want a frothy, cappuccino-style topping, insert the arm into the jug of milk so that the tip is just below the surface. If you want a smoother, café latte-style topping, position the arm so it goes down the side and to the bottom of the jug. Turn it back on full and wait a few moments until the sides of the jug are hot enough to be uncomfortable to the touch.
      Turn off and take the jug away. Wipe the steam arm and turn it on to clean it through once more.

Step 7: Add the milk

      Tap the jug on a work surface and swirl the milk around to create a shiny surface with the consistency of thick custard. Carefully pour the milk on top of the chocolate espresso mixture and serve.

      Done


Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Học pha cà phê ngon

Trong ẩm thực, bất kỳ một món ăn hay thức uống nào mà ngon đều phải có những cách chế biến rất đặc trưng. Việc pha một ly cà phê ngon cũng không ngoại lệ. Theo kinh nghiệm của mình. Để có một ly cà phê ngon, dưới đây là một trong vài cách pha cà phê nguyên chất ngon nhất:

1. Nguyên liệu và vật dụng cần pha:
a.  Cà phê nguyên chất (các loại cà phê Việt Nam)
b.  Phin pha cà phê phin nhôm là tốt nhất, nên chọn thương hiệu Vinalu,  Saigon vì nguyên liệu nhôm dày, lỗ đục đều, phân bố hợp lý…).
c.  Ấm đun nước sôi
d.  Nước được lấy từ nước máy (không sử dụng các loại nước đóng chai)

2. Cho bột cà phê nguyên chất vào phin, lượng cà phê bằng 5/10 phin hoặc 6/10 phin.
 

3. Lắc nhẹ cho bột bằng mặt rồi dùng nấp gài ấn nhẹ cho cà phê dẽ lại (nhớ là ấn nhẹ, ấn mạnh sẽ bị nghẹt, ấn nhẹ quá café sẽ chảy nhanh và lượng café ra không đậm đặc). Sau đó lấy nấp gài ra. Bạn có thể không cần rót nước sôi lên miếng nắp gài kim loại, mà hãy chế nhẹ nhàng, trực tiếp nước sôi  vào bột cafe.
 
 
 4. Đung nước sôi 95-100 độ C, nếu là ấm điện, ngay khi ngắt điện là châm café ngay. Cách châm nước: rưới đều vòng tròn 1 cách thật nhẹ nhàng (cách rưới nước cũng ảnh hưởng tới chất lượng café đấy nhe các bạn).
 
5. Mức nước cỡ nào thì dừng lại ?

Buối sáng hoặc chiều cần uống đậm
đặc hơn, nên rót ít nước


Buối chiều hoặc tối cần uống đậm
vừa nên cho nước nhiều hơn tí

Đậy nấp lại và chờ, bột cà phê nguyên chất cần có một quá trình hút và thẩm thấu nước sôi để nở bung lên và sau đó lại tiết nước cà phê ra, nên ban đầu nước cà phê  chưa nhỏ giọt ngay xuống phin, sau 2 phút cà phê sẽ chảy giọt lien tục xuống ly.

6. Cuối cùng là cho đường, sữa hoặc đá tùy thích.
MẸO:

1.    Cà phê nguyên chất uống nước 2 (hay còn gọị là nước dão) vẫn rất chi là ngon và bổ dưỡng cũng không kém đâu nha. Sau khi bạn pha café nước nhất xong, tiếp tục cho nước sôi lên và châm lần 2, lần này châm đầy phin luôn. Khi uống, bỏ ít đường và thật nhiều đá, quậy đều và chờ 4 phút mới uống. Lúc đó nước mới thật lạnh và uống từng ngụm bự (như uống trà đá) bạn mới phát hiện cái sướng của nó.

2.    Pha café sữa: tỉ lệ sữa là 3-4/10, còn café là 6-7/10. Sữa phải được cho vào lý trước rồi mới để phin cafe lên. Nước nóng giúp chín sữa và khi pha thì cafe và sữa mới hòa quyện vào nhau. Nhớ là: Pha cafe sữa thì không được cho đường vào.

Hi vọng, qua kinh ngiệm, các bạn cũng đóng góp nhiều cách pha ngon để dân ghiền cà phê như chúng ta có dịp trãi nghiệm những giờ phút thật thú vị bên ly cà phê thơm ngon, hương vị đỉnh cao.
 Xem thêm các bài viết tương tự
 

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Phân biệt cà phê thật và giả

Hằng ngày bạn vẫn thường thích uống cà phê, bạn thích ngồi nhâm nhi cà phê hết quán này đến quán khác thậm chí bạn ghiền cà phê đến nổi mua về để tự pha chế và thưởng thức. Nhưng trên thị trường cà phê được sản xuất ra quá nhiều làm thế nào để biết bịch cà phê bạn mua về thực sự là bịch cà phê? Và làm thế nào để biết ly cà phê mà bạn thưởng thức có phải hoàn toàn chỉ là cà phê nguyên chất có lợi cho sức khỏe, cho tuổi thọ, cho nhan sắc của bạn... Hãy cùng tìm hiểu bài viết sau:

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Lên Tây Nguyên khám phá vùng đất của bao sử thi hào hùng

Lễ 2/9 bạn và gia đình đã có kế hoạch đi du lịch nghỉ lễ đâu đó chưa? Hãy thử một lần xách ba lô đi du lịch Tây Nguyên đến với núi rừng cao nguyên, đến với các bộ lạc dân tộc... để cảm nhận không khí trong lành tại vùng đất Tây Nguyên, vùng đất của bao sử thi dân gian hào hùng của dân tộc Êđê và Mnông cũng như thưởng thức hương vị cà phê, chén rượu cần, nghe âm thanh của tiếng cồng chiêng...  vốn nổi tiếng tại nơi đây

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Bảo tàng cà phê và bảo tàng Tây Nguyên

Sau những trải nghiệm về cà phê, thưởng thức hương vị cà phê, cuối cùng thông gian Làng cà phê, nơi bước chân khách tham quan được dẫn bởi hàng đá xếp trên mặt nước và những cây cầu nhỏ là không gian nhà dài Ê-đê trưng bày nững hiện vật cổ có giá trị lớn nhất, lâu đời nhất của văn hoá Tây Nguyên. Làng cà phê chọn vị trí trung tâm này để tôn vinh 2 giá trị: cà phê và văn hoá bản địa.


+ Tầng 1: là nơi trưng bày Bảo tàng Tây Nguyên, hàng trăm hiện vật độc đáo thể hiện được văn hoá của người dân bản địa đã được Trung Nguyên dày công sưu tầm đang được trưng bày tại đây.

 
+ Tầng trệt: là nơi trưng bày một phần của Bảo tàng cà phê thế giới với hàng ngàn hiện vật, những người yêu cà phê có thể khám phá các văn hoá cà phê khác nhau thông qua bảo tàng này.

 
Những giàn chiêng quý nằm kề chén rượu, những bộ nông cụ cổ truyền được sắp đặt cùng công cụ nghề săn voi... là tư liệu quý giúp những người yêu mảnh đất Bazan trù phú hiểu về một miền cao nguyên hoang sơ thưở trước với những đêm đại ngàn âm vang tiếng cồng chiêng và tiếng kể sử thi huyền bí, ồng men rượu cần. 

Chính vì vậy, không phải nhẫu nhiên, Làng cà phê trở thành điểm hẹn của những con người tinh hoa yêu vùng đất Tây Nguyên và đam mê cà phê như nhạc sĩ Dương Thụ, Nguyễn Cường, hoạ sĩ Lê Thiết Cương, nhà văn Nguyên Ngọc, kiến trúc sư Nguyễn Văn ất, đạo diễn Lưu Trọng Ninh... Đây cũng là niềm tự hào của thành phố Buôn Ma Thuột được giới thiệu và đón tiếp hàng trăm đại sứ, các vị khách ngoại giao, chuyên gia, khách quốc tế... Trong chuyến khảo sát chuẩn bị dự án thiết kế Bảo tàng cà phê thế giới, kiến trúc sư tài ba người Nhật Arata IsoZaki nổi tiếng với các công trình Nhà hoà nhạc Kyoto, Bảo tàng nghệ thuật hiện đại của Los Angeles, tháp nghệ thuật Mito đã đến thăm Làng cà phê và thốt lên rằng: "Một không gian cà phê hiếm có trên thế giới".

Cùng với không gian trưng bày sản phẩm và các đặc sản Tây Nguyên được tạo ra hình từ lá cà phê cách điệu và những cụm cỏ cây hoa lá sắp đặt tinh tế, tổng thể không gian của Làng cà phê Trung Nguyên là một mô thức đẹp của kiến tạo không gian, nơi có khả năng khơi dậy những đam mê và sức sáng tạo mạnh mẽ của con người, là điểm hẹn du lịch đặc biệt, hấp dẫn của thành phố cao nguyên Buôn Ma Thuột


Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Lên Tây Nguyên khám phá vẻ đẹp của Hồ Lắk

Nói đến Đắk Lắk, người ta thường nhắc tới huyền thoại về Hồ Lắk - một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn, nối với sông Krông Ana, rộng khoảng 500ha, nằm ở độ cao hơn 500m so với mặt nước biển.


Đây đang là một điểm du lich sinh thái độc đáo thu hút khách du lich trong và ngoài nước, với một vẻ đẹp tự nhiên thơ mộng của núi và rừng bao quanh. Không những vậy, vùng đất này còn lưu giữ được nhiều nét đẹp truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đó là những mái nhà dài nằm thấp thoáng dưới tán cây xanh, là những cô gái cần mẫn bên chiếc khung dệt thổ cẩm, là những bản hùng ca, ngợi ca chiến công của người con nơi núi rừng đại ngàn. Tất cả sẽ khiến khách du lich cảm nhận được vẻ nguyên sơ, thanh bình, yên ả của một vùng đất giàu truyền thống lịch sử.

Đến với Hồ Lắk, khách du lich có thể cưỡi voi hoặc đi thuyền độc mộc để ngắm cảnh hồ. Khi lên bờ khách du lich có thể thực hiện những cuộc dã ngoại vào buôn làng Mơ Nông hoặc đi sâu vào trong rừng để khám phá những điều bí ẩn trong cuộc sống của chim chóc, muông thú.

Bà Josette Farret - Khách du lich đến từ Pháp cho biết: “Đây là lần đầu tiên tôi được cưỡi voi. Cảm giác rất hoang dã. Ngắm cảnh trên lưng voi rất tuyệt vời, nhìn nó thú vị hơn rất nhiều. Tôi thấy buôn làng này làm du lich rất tốt”.




Hiện nay, cư dân sống xung quanh hồ chủ yếu là người Mơ Nông vẫn giữ được những nét văn hoá dân tộc truyền thống. Những nghề thủ công, lễ hội truyền thống, nghề dệt thổ cẩm, nhiều vật dụng sinh hoạt như ghế Kpal, trồng H’gơr, chiêng, ché cổ và những ngôi nhà dài truyền thống của người Mơ Nông sẽ là điểm đến thu hút sự quan tâm của khách du lich. Bên cạnh đó, khách du lich có thể thưởng thức các vũ điệu truyền thống sôi động hay nghe người làng kể chuyện và thưởng thức các món ăn đặc sản.



Hiện hợp tác xã du lich buôn Jun đang duy trì đội cồng chiêng gồm 15 nghệ nhân, 8 nhà sàn, 20 thuyền độc mộc phục vụ khách du lich đến thăm thú, nghỉ ngơi, thưởng thức sinh hoạt văn hóa. Đội nghệ nhân cồng chiêng có đủ khả năng diễn tấu cồng chiêng, múa hát, phục dựng những lễ nghi truyền thống như: Lễ cúng bến nước, lễ mừng mùa, lễ cúng sức khỏe cho voi… khi khách có yêu cầu.
Ông Joel Bocuse - Khách du lich đến từ Pháp nói: “Thật là thú vị và hấp dẫn khi tới đây, người dân thân thiện và mến khách. Khung cảnh thì tuyệt vời, có rất nhiều điều lạ lùng và mới mẻ để tôi có thể khám phá. Tôi thấy rất hài lòng với cách làm du lich ở đây”.

Hồ Lắk có vẻ đẹp huyền bí. ngoài cảnh đẹp tự nhiên, không khí trong lành, những nét văn hoá đặc sắc của dân làng Mơ Nông, đã, đang và sẽ đưa Hồ Lắk trở thành điểm đến không thể thiếu trong các tour du lich Đắk Lắk nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung...